Văn hóa đọc trong thời đại số
Trăm năm cô đơn

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Mỹ Nhung
Ngày gửi: 14h:50' 09-12-2025
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Lê Thị Mỹ Nhung
Ngày gửi: 14h:50' 09-12-2025
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
Tên truyện : Trăm Năm Cô Đơn
Tác giả : Gabriel Garcia Márquez
Dịch giả : Nguyễn Trung Đức
Thể loại : Văn học nước ngoài
Nhà xuất bản : Văn Học
Năm xuất bản : 2003
Số trang : 484
Kích thước : 13 x 19 cm
Trọng lượng : 530 g
Số quyển / 1 bộ : 1
Hình thức bìa : Bìa cứng
Giá bìa : 55.000 VNĐ
Nguồn : vnthuquan.net
Ebook: http://daotieuvu.blogspot.com
Mục Lục
Lời giới thiệu
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương Kết
Lời giới thiệu
Tiểu thuyết đạt giải noben văn học năm 1982
Nhà văn Gabriel Garcia Márquez
Cho đến nay Trăm năm cô đơn vẫn là cuốn tiểu thuyết lớn
nhất của Gabrien Gacxia Maket (Gabriel Garcia Márquez,
1928), nhà văn Côlômbia, người được giải Nôben về văn học
năm 1982. Trăm năm cô đơn ra đời (1967) đã gây dư luận sôi
nổi trên văn đàn Mỹ Latinh và lập tức được cả thế giới hâm
mộ. Theo số liệu của tác giả đến năm 1970, Trăm năm cô đơn
đã được in bằng tiếng Tây Ban Nha hơn nửa triệu bản, chưa kể
lần in ở Cuba xã hội chủ nghĩa (một lần hai vạn bản, lần sau
tám vạn bản) và mười bảy hợp đồng xin phép tác giả được
dịch tác phẩm này ra các thứ tiếng khác. Sau gần hai mươi
năm, Trăm năm cô đơn đã có mặt ở khắp nới trên hành tinh
chúng ta để đến với mọi người và mọi nhà. Rõ ràng Trăm năm
cô đơn là một cuốn sách ăn khách mặc dù tác giả của nó không
viết với mục đích câu khách.
Cốt truyện và đề tài
Trăm năm cô đơn là câu chuyện về dòng họ Buênđya tồn tại
bảy thế hệ, người đầu tiên bị trói vào gốc cây và người cuối
cùng đang bị kiến ăn, một dòng họ tự lưu đày vào cõi cô đơn
để chạy trốn tội loạn luân.
Cái tội loạn luân này khởi sự từ việc tên cướp biển Phranxit
Đrăc tấn công Riôacha khiến các cụ tổ của Ucsula Igoaran
phải chuyển đến lập nghiệp ở một làng hẻo lánh. Tại đây các
cụ tổ của Hôsê Accađiô Buênđya đã lập nghiệp bằng nghề
trồng thuốc lá. Qua ba thế kỷ, hai dòng họ này đã có quan hệ
thâm giao, cháu chắt họ lấy lẫn nhau dẫn tới thảm hoạ đẻ ra
một người đàn ông có đuôi lợn. Chính cái gương tày liếp này
đã khiến cha mẹ Hôsê Accađiô Buênđya và Ucsula Igoaran
tìm mọi cách ngăn cản nhưng họ vẫn cứ lấy nhau. Khi đã là vợ
chồng rồi và dẫu Hôsê Accađiô Buênđya tuyên bố “dù có đẻ ra
kỳ đà anh cũng cóc cần”. Ucsula Igoaran vẫn sợ đẻ ra đứa con
có đuôi lợn, nên khi đi ngủ bao giờ cô cũng mặc chiếc quần
trinh tiết do mẹ may cho. Sự việc kéo dài hơn một năm khiến
dân làng ngạc nhiên và đồn rằng anh chồng là kẻ bất lực.
Một hôm, bị thua Hôsê Accađiô Buênđya trong một cuộc chọi
gà, Pruđênxiô Aghila không kìm được lòng đã lỡm bạn: “Tao
mừng cho mày và để xem cái con gà này có làm phúc cho vợ
mày không”. Vì lời nói lỡm ấy anh ta phải trả cả tính mạng.
Nhưng không vì thế, người chiến thắng được sống thanh thản,
trái lại lúc nào cũng bị lương tâm dằn vặt đến mức phải bỏ
làng tìm đền một miền đất không được hứa trước để lập ra
làng Macônđô, để tự lưu đày trong cõi cô đơn trăm năm. Rồi
trong cõi cô đơn ấy, những Hôsê Accađiô và những Aurêlianô,
những Rêmêđiôt và những Amaranta đã ra đời, sống cuộc đời
với số phận bi đát dường như đã được định trước: lay lắt trong
nỗi cô đơn và hoài nhớ, thấp thỏm lo phạm tội loạn luân.
Nhưng lo cũng chẳng được. Lúc còn đang thời sinh nở, sau
mỗi lần đẻ Ucsula Igoaran đều cặn kẽ xem con mình có mang
bộ phận nào của con vật không. Về già, cụ luôn luôn nhắc nhở
đám cháu con hãy mở to mắt để nhận mặt họ hàng, đừng
chung đụng xác thịt mà sinh con có đuôi lợn. Nhưng cụ không
thể sống đến hết chuyện để khuyên giải Amaranta Ucsula và
Aurêlianô Babilônia. Vì không biết rõ gốc gác, không nắm
được quan hệ ruột thịt, Amaranta Ucsula và Aurêlianô
Babilônia đã yêu nhau mãnh liệt, ăn nằm với nhau và lấy nhau
với hy vọng tình yêu sẽ cải tạo nòi giống mình. Nhưng họ đã
đẻ ra đứa con quái thai có đuôi lợn và con vật huyền thoại này
đã kết liễu dòng họ Buênđya tồn tại bảy thế hệ. Rõ ràng trong
thế giới cô đơn và hoài nhớ ấy, những người trong dòng họ
Buênđya đã phạm tội loạn luân dù cho họ cô ý chạy trốn tội
loạn luân. Như vậy chúng ta thấy trong Trăm năm cô đơn, loạn
luân là một đề tài đã mở và đóng lại một thiên truyện.
Nhưng sự ra đời và tồn tại của dòng họ Buênđya lại gắn rất
chặt với số phận của làng Macônđô.
Lúc đầu Macônđô là một làng quê hiền hoà. Tại đây chưa một
ai đã ngoài ba mươi tuổi. Macônđô chưa có nghĩa địa, dân trí
Macônđô chưa được khai sáng. Ðứng đầu làng là Hôsê
Accađiô Buênđya, một tộc trưởng. Ông chăn dắt dân Macônđô
theo lề thói của công xã nông thôn. Dân Macônđô sống hiền
lành, không phạm tội giết người nên không cần có quan cai trị
(phần đời) và cha cố (phần hồn). Mặc dù sống biệt lập với thế
giới bên ngoài, dân Macônđô đã biết làm cho làng mình trở
thành một làng quê trù mật và yên vui.
Người Digan, theo tiếng chim hót và tiếng nhạc đồng hồ, đã
tìm được đường đến với Macônđô. Họ mang tới đây biết bao
thứ mới lạ mà dân Macônđô chưa hề biết tới. Họ mang tới
làng nghề thủ công và nghề buôn bán. Họ lập ra phố Thổ Nhĩ
Kỳ.
Macônđô từ một làng quê trở thành một thị trấn. Chính phủ
trung ương phái tới làng một Quan thanh tra. Ðó là ông
Apôlina Môscôtê. Sự có mặt của Quan thanh tra đã làm cho
cuộc sống vốn thanh bình của Macônđô bỗng trở nên bị xáo
trộn. Cuộc nội chiến triền miên và khốc liệt giữa hai phái Bảo
hoàng và Tự do đã nhiều phen tàn phá Macônđô, làm cho dân
chúng phải nhiều phen điêu đứng. Tương ứng với thời kỳ này
của Macônđô là sự trưởng thành của thế hệ thứ hai dòng họ
Buênđya mà người tiêu biểu là đại tá Aurêlianô Buênđya.
Ngài đã phát động ba mươi hai cuộc chiến và ngài phải chịu
thất bại hoàn toàn, buộc phải kí hiệp định đình chiến
Neclanđia mà thực chất của bản hiệp định này là sự đầu hàng
của lực lượng Tự do trước lực lượng Bảo hoàng.
Nhờ có đường xe lửa, Macônđô thực sự giao lưu với thế giới
bên ngoài. Phim ảnh, máy phát điện, máy hát, gái điếm, khách
du lịch đã tràn ngập Macônđô. Công ty chuối (thực chất là
Công ty hoa quả Mỹ) cũng đến đây và lập đồn điền chuối. Dân
tứ xứ đổ về Macônđô. Cuộc sống Macônđô sầm uất lên. Giai
đoạn này của Macônđô tương ứng với thế hệ thứ tư dòng họ
Buênđya mà người tiêu biểu là hai anh em sinh đôi: Aurêlianô
Sêgunđô và Hôsê Accađiô Sêgunđô. Aurêlianô Sêgunđô to
khoẻ đầy sinh lực, sôi nổi sống hết mình trong cõi đời thế tục.
Ngược lại Hôsê Accađiô Sêgunđô vóc người mảnh khảnh
nhưng rất thông minh, đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh
của công nhân chuối đòi cải thiện sinh hoạt và tăng lương.
Người Mỹ, ở đây là ngài Trao, rất xảo quyệt và tráo trơ tìm
mọi cách thoái thác những yêu cầu chính đáng của công nhân.
Khi cuộc đấu tranh lên đến cao trào, người Mỹ đã thẳng tay
tắm máu công nhân bằng một vụ thảm sát tất cả những ai có
mặt ở sân ga và sau đó dùng đoàn tàu dài hơn hai trăm toa chở
xác chết ném xuống biển như Công ty chuối vẫn đổ chuối thối.
Công ty chuối rút khỏi Macônđô. Bằng phép màu, Công ty
chuối đã dìm chết Macônđô trong một trận mưa lụt kéo dài
bốn năm mười một tháng hai ngày và sau đó lại rang khô nó
trong nạn hạn hán kéo dài mười một năm. Macônđô tiêu điều
xơ xác. Cỏ dại, sâu bọ sinh sôi nảy nở nhanh chóng và hung
hãn tiến công con người ngày một quyết liệt hơn để đến một
ngày kia một trận cuồng phong nổi lên xoá Macônđô khỏi mặt
đất này.
Kết cấu và thời gian nghệ thuật
Khi đọc đến Aurêlianô Babilônia giải được mã của
Menkyađêt viết trên những tấm da thuộc, chúng ta nhận thấy
Trăm năm cô đơn là chuyện về dòng họ Buênđya được viết tỉ
mỉ đến từng chi tiết theo phương thức thời gian đồng hiện với
một kết cấu phức tạp và chặt chẽ. Viết được như vậy chính là
vì Gacxia Mackêt đã khởi công viết cuộn sách này từ năm
1950. Khi ấy, ông mới mười bảy tuổi làm một nhà báo tập sự,
từng có một ít truyện ngắn đăng trên các báo chí địa phương.
Sống trên gác xép một toà nhà bốn tầng, nhiều bữa phải ăn
cơm của các cô gái điếm nghèo cùng trọ trong ngôi nhà ấy,
Gacxia Mackêt viết cuốn tiểu thuyết nhan đề Ngôi nhà (La
Casa) bao gồm những chuyện về ngôi nhà có ma, ngôi nhà của
chính ông bà ngoại mình. Ðây là câu chuyện ông biết được
qua miệng người bà ngoại có biệt tài kể chuyện. Và đây cũng
là cuộc nội chiến giữa phái Bảo hoàng và phái Tự do qua
miệng người ông ngoại, một cựu chiến binh của phái Tự do.
Những chuyện này gắn bó với tuổi ấu thơ của nhà văn. ông
phải bỏ dở cuốn sách, có lẽ vì ông còn quá trẻ.
Sau đó chúng ta thấy ông lần lượt cho ra mắt bạn đọc những
tác phẩm như. Ðôi mắt chó xanh (tập truyện, 1955), Lá rụng
(tiểu thuyết, 1955), Ngài đại tá chờ thư (truyện, 1957), Giờ
xấu (tiểu thuyết, 1962) và Ðám tang của bà Mẹ vĩ đại (tập
truyện, 1962). Chúng ta thấy những nhân vật này có mặt nhiều
lần trong các tác phẩm trên và chúng có liên quan với nhau vì
chúng đều ở làng Macônđô hoặc có dịp qua lại làng Macônđô.
Hơn thế nữa, chúng ta thấy nhiều nhân vật đó lại có mặt trong
Trăm năm cô đơn. Như vậy, ta có thể nói rằng qua các trang
này, Gacxia Mackêt đã rèn luyện, thử thách ngòi bút mình, đã
tìm ra được cái giọng điệu độc đáo của mình trước khi bước
vào viết cuốn sách ông từng ấp ủ nhiều năm, đó là Trăm năm
cô đơn. Ông thuộc lòng câu chuyện đến mức có thể kể ngược
rồi kể xuôi cho các bạn mình nghe. Vào một ngày tốt lành năm
1965, ông bảo Mecxeđet Baccha, vợ ông, rằng: “Từ nay em lo
chuyện nhà cửa để anh chuyên viết sách”. Ông dành mười tám
tháng, ngày nào cũng như ngày nào, sáng bắt đầu từ tám giờ,
chiều kết thúc vào lúc ba giờ, cặm cụi viết. Khi viết được hai
trăm trang, ông đọc tiểu thuyết Thế kỷ ánh sáng của nhà văn
Alêhô Cacpentiê. Vì nhận thấy lời văn cuốn sách mình đang
viết na ná giống lời văn của Thế kỷ ánh sáng, ông xé bỏ bản
thảo, bắt đầu viết lại từ đầu. Cuốn sách được phát hành, đã gây
dư luận sôi nổi trên văn đàn Mỹ Latinh. Thành công ấy hoàn
toàn không bất ngờ đối với Gacxia Mackêt vì khi rời ghế nhà
trường ông mang hai niềm tin lớn: chủ nghĩa xã hội và những
cuốn tiểu thuyết hay, vì trách nhiệm của người cầm bút là phải
viết cho thật hay. Trăm năm cô đơn là một trong những cuốn
tiểu thuyết ông mơ ước và đã phấn đấu để có được.
Khi đọc xong Trăm năm cô đơn chúng ta thấy ở cuốn sách này
có hai văn bản. Văn bản một là cái văn bản chúng ta đọc hết
dòng này sang dòng khác chạy suốt từ đầu đến cuối sách. Văn
bản hai là văn bản được Menkyađêt viết trên những tấm da
thuộc. Văn bản hai làm nền cho văn bản một. Tương ứng với
hai văn bản trên có hai người kể chuyện. Một là người kể
chuyện ở văn bản một, chúng tôi gọi là người kể chuyện thứ
nhất, và người kia là Menkyađêt kể chuyện ở văn bản hai,
chúng tôi gọi là người kể chuyện thứ hai. Sau khi đã thuộc
lòng câu chuyện về dòng họ Buênđya do người kể chuyện thứ
hai ghi trên những tấm da thuộc, người kể chuyện thứ nhất,
với tư cách nhà thông thái, người hiểu biết tất cả, theo sở thích
của mình kể lại cho chúng ta nghe chính những câu chuyện ấy.
Rồi trong khi kể cho chúng ta nghe, người kể chuyện thứ nhất
đã vận dụng kết cấu sự kiện để làm nổi bật tính cách một nhân
vật hoặc bản chất một sự kiện bằng cách hội tụ các sự kiện,
các tình tiết theo thứ tự biên niên sử.
Tương ứng với hai người kể chuyện, trong tiểu thuyết Trăm
năm cô đơn có hai thời gian sau đây:
a) Thời gian của người kể chuyện thứ nhất tương ứng với văn
bản một, bắt đầu với việc giới thiệu một nhân vật, rồi đến thế
kỷ, sau đó lại tiếp nối cùng với việc kể tiếp về nhân vật ấy.
Thời gian của người kể chuyện thứ nhất dường như lấp kín
mọi khoảng không gian trong đó nhân vật tồn tại và nó cho ta
cảm quan về toàn bộ cuộc đời nhân vật ấy. Ví dụ: kể về cuộc
đời đại tá Aurêlianô Buênđya, cuốn sách mở đầu: “Rất nhiều
năm sau này, trước đội hành hình, đại tá Aurêlianô Buênđya
đã nhớ lại buổi chiều xa xưa ấy, cái buổi chiều cha chàng dẫn
chàng đi xem nước đá“. Trong sách cái thời điểm Aurêlianô
Buênđya sắp bị hành quyết nằm ở chương thử bảy. Sự kiện cha
chàng dẫn chàng đi xem nước đá lại được kể ngay từ chương
thứ nhất. Như vậy là trong suốt bảy chương đầu cuốn sách, tác
giả nói về cuộc đời niên thiếu, trưởng thành cho đến khi đi trận
của đại tá Aurêlianô. Tiếp đó thời gian của người kể chuyện
thứ nhất mới vận động tiếp để kể cho chúng ta biết về những
hành động, những thất bại chua cay sau này của đại tá
Aurêlianô. Cuộc đời các nhân vật khác như Aurêlianô
Sêgunđô và Aurêlianô Babilônia cũng được trình bày tương
tự. Như vậy, thời gian của người kể chuyện thứ nhất là thời
gian tâm lý gắn với quá trình nhớ lại, quá trình hồi tưởng.
b) Thời gian của người kể chuyện thứ hai gắn với văn bản hai.
Thời gian này là thời gian dòng họ Buênđya ra đời, thịnh đạt
và tuyệt diệt. Nhưng vì dòng họ này là một dòng họ đã được
khẳng định, không phát triển tới một tương lai nào nên thời
gian của người kể chuyện thứ hai chuyển động vòng tròn.
Thời gian của người kể chuyện thứ hai là thời gian cốt truyện
mang tính biên niên sử, nó là thời gian thực tại, tồn tại độc lập
với ý thức của người kể chuyện thứ nhất.
Trong Trăm năm cô đơn chúng ta thấy hai loại thời gian này
đan bện lấy nhau, hoà quyện vào nhau, trong đó thời gian của
người kể chuyện thứ hai, thời gian thực tại, giữ vai trò then
chốt, tạo thành thời gian nghệ thuật của tác phẩm, phản ánh
được đặc trưng trì động, chậm phát triển cua Mỹ Latinh: “Xét
về mặt hình thức mà nói thời gian của sự chậm phát triển
thường vận động theo chu kỳ khép kín và về mặt kỹ thuật mà
nói nó thường bị chia vụn thành các khoảnh khắc. Nó có tính
chất vận động theo chu kỳ khép kín, là vì cái quá trình lịch sử
không bao giờ được kết thúc. Khởi nghĩa không bao giờ có tác
động đẩy sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc đi tới nền
độc lập thật sự. Ðất nước không bao giờ đi tới độc lập thực sự.
Cá nhân không bao giờ đi tới sự tự ý thức hoàn toàn. Tất cả
đều thay đổi đều chuyển hoá nhưng tất cả đều giẫm chân tại
[1]
chỗ” .
Thời gian đa chiều, thời gian nghệ thuật của Trăm năm cô đơn
là một thành tựu của Gacxia Macket. Nhưng thời gian nghệ
thuật của tác phẩm chỉ đạt hiệu quả nghệ thuật cao khi Gacxia
Macket tạo ra được một Macônđô, sản phẩm tuyệt vời của hư
cấu nghệ thuật. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra Atacarata là
nguyên mẫu của Macônđô vì trong tác phẩm, nhất là phần
cuối, chúng ta có thể nhận ra những người thật việc thật của
Atacarata, quê hương của tác giả. Ví dụ theo Hecman Vacgat,
nhà phê bình văn học Côlômbia, bạn thân của Gacxia Macket,
thì cụ già bán sách cổ người Catalunha chính là cụ Ramôn
Viniêt. Bốn người bạn trẻ chơi thân với nhau chính là tác giả
(vai Gabrien) và các bạn của ông như Anva chính là nhà văn
Anvarô Xêpêda: Xamuđiô, Vacgat chính là nhà phê bình văn
học Hecman Vacgat và Anphôrô chính là hoạ sĩ Anphônxô
Phuênmađô. Dù có thế đi nữa Macônđô vẫn không phải là
Atacarata mà ngược lại Macônđô là bất kì một thành phố nào
của Côlômbia nói riêng, của Mỹ Latinh nói chung. Macônđô
là một địa danh hư cấu đủ sức dung nạp mọi chuyện, từ
chuyện có thực đến chuyện tưởng tượng - dù tưởng tượng theo
nguyên tắc hư cấu nghệ thuật hay tưởng tượng theo nguyên tắc
huyền thoại. Nhờ vậy, thực tại đời sống ùa vào tác phẩm một
cách phong phú, đa dạng, không chỉ cái có thực mà còn có cả
cái không có thực theo những cấp độ sau đây:
1. Cái có thực vốn là những sự kiện lịch sử từng xảy ra ở
Côlômbia và Mỹ Latinh được tác giả tái hiện chính xác tới
từng chi tiết. Ðó là cuộc nội chiến triền miên và khốc liệt giữa
phái Bảo hoàng và phái Tự do. Sĩ quan hai phái ban ngày đánh
nhau kịch liệt, ban đêm làm bạn cờ bạc. Trong Trăm năm cô
đơn, điều đó được phản ảnh trong quan hệ bạn bè giữa đại tá
Aurêlianô và tướng Raken Môncađa.
2. Cái có thực vốn là cái lạc hậu, cổ hủ của Mỹ Latinh được
tác giả tái hiện trong tác phẩm theo phương pháp phúng dụ.
Chính nhờ thế, giọng điệu hài hước đã nổi đậm trong Trăm
năm cô đơn. Ví dụ: đá nam châm, kính lúp, thước đo góc, la
bàn, nước đá (ở phần đầu), máy hát, máy nổ, phim ảnh, xe lửa
(ở phần cuối). Ðó là những công cụ từng được sáng chế và sử
dụng phổ biến trên thế giới nhưng vẫn là những thứ tân kì đối
với dân chúng Macônđô.
3. Cái có thực mang tính chất kì diệu được tác giả đưa vào tác
phẩm. Ðó là khả năng ngoại cảm tuyệt vời của đại tá
Aurêlianô Buênđya. Ðó là sự đồng cảm tuyệt đối giữa hai chú
bé sinh đôi khi người này uống nước chanh thì người kia, mặc
dù không uống, vẫn cứ nói đúng trăm phần trăm là nước chanh
không pha đường..
4. Cái có thực được nhà văn tưởng tượng theo nguyên tắc
huyền thoại hoá đẩy nó tới mức phi thường hoặc quái dị. Ðó là
trường hợp Rêmêđiôt - Người đẹp là một cô hầu người
Anhđiêng. Cô ta vốn không đẹp. Cô ta vô cớ bỏ nhà chủ và
chủ nhà không hay biết cô ta bỏ đi lúc nào và đi đâu. Trong
Trăm năm cô đơn, cái cô người ở ấy đã trở thành người trong
gia đình, người đẹp và cô ta đã bay lên trời vì cô ta là hiện
thực là cái đẹp không thuộc cõi thế tục này. Ngược lại với
trường hợp cô gái là vụ thảm sát hơn ba ngàn người là chuyện
có thực từng xảy ra ở Côlômbia vào cuối những năm hai mươi
thế kỉ này, nhưng đã được Gacxia Mackêt huyền thoại hoá
theo hướng quái dị để bộc lộ bản chất xấu xa, đê tiện, tàn nhẫn
của tư bản Mỹ.
5. Cái không có thực do nhà văn căn cứ vào cảm quan cửa
mình trước thực tại xã hội mà tưởng tượng ra rồi đưa vào tác
phẩm theo nguyên tắc huyền thoại hoá. Mưa hoa trong đám
tang của Hôsê Accađiô Buênđya là cảm quan xót thương của
tác giả trước một con người đầy nghị lực, đầy thông minh,
luôn đam mê hiểu biết. Trận mưa lụt là cảm quan của tác giả
trước thực tại trì động đã đến ngày tận thế của xã hội Mỹ
Latinh. Cái đuôi con lợn của thằng bé cuối cùng trong dòng họ
Buênđya là cảm quan của tác giả về loại người chưa thành
người hoặc đã bị hạ cấp dưới mức người.
Nhân vật và thông điệp
Thành công của Gacxia Macket trong việc tạo ra một không
gian và thời gian nghệ thuật như trên đã mở ra một khả năng to
lớn trong việc xây dựng các nhân vật có cá tính. Chúng ta dễ
dàng nhận ra những nhân vật trong Trăm năm cô đơn là những
nhân vật siêu mẫu, tức là những con người phi thường, dị hợm
và quái dị. Nhờ tính chất siêu mẫu nầy, các nhân vật trong
Trăm năm cô đơn đã gây hào hứng cho độc giả để rồi mãi mãi
đọng lại trong tâm trí bạn đọc. Quả vậy, trong Trăm năm cô
đơn có khoảng sáu mươi nhân vật, kẻ cả chính lẫn phụ. Nhân
vật nào cũng có cá tính rất sông động trước mắt chúng ta.
Thành công này có được là nhờ Gacxia Macket đã vận dụng
và nâng cao thủ pháp xây dựng nhân vật của truyện kể dân
gian: chỉ chấm phá đôi nét còn nhường chỗ cho trí tưởng
tượng của người đọc người nghe. Tuỳ từng nhân vật cụ thể,
ông thấy cần nhấn mạnh nét cá tính nào thì ông tập trung miêu
tả những biểu hiện của cá tính ấy. Cần phải làm nổi bật tư chất
thị dân của Piêtrô Crêspi thì ông miêu tả và chỉ miêu tả cái bàn
tay có nước da mai mái xanh của anh ta. Cần làm nổi bật trái
tim yêu rạo rực của Pila Tecnêra, Gacxia Macket luôn nhấn
mạnh đến cái mùi khen khét phả ra từ nách ả, đến cái tiếng
cười khanh khách của ông như tiếng gù cù cù rục của con bồ
câu. Cần làm nổi bật tư chất rầu rĩ của đại tá Aurêlianô
Buênđya ông nhấn mạnh tiếng khóc từ trong bụng mẹ của đại
tá. Cần làm nổi bật tư chất trác táng, đam mê rượu chè và hội
hè của Aurêlianô Sêgunđô ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần cái
câu nói đầy khẩu khí của anh ta: “Hỡi những con bò cái hãy
dạng háng ra kẻo cuộc đời ngắn ngủi lắm” v.v… và v.v…
Như vậy chúng ta thấy mỗi nhân vật được khu biệt hoá với các
nhân vật khác bởi chỉ một hoặc vài ba điểm. Trong nhiều
trường hợp, những đặc điểm này được phóng đại đến mức quái
dị như những chiếc mặt nạ. Và do đó nhân vật trở thành siêu
mẫu gây ấn tượng sâu sắc trong người đọc. Chúng ta không
thể quên được Babilônia, anh thợ cơ khí của Công ty chuối với
đàn bướm vàng, không thể quên được Rêmêđiôt Người đẹp
với luồng khí độc có hiệu quả trong việc làm chết những kẻ
đam mê cô do không biết cách chứng tỏ tình yêu của mình
không thể quên được Menkyađêt với chiếc mũ cánh quạ không
thể quên được Pêtra Côtêt mà tình dục của cô ta có ảnh hưởng
quyết định đến tính mắn đẻ của gia súc không thể quên được
Rêbêca, cô gái nặng hoài nhờ ăn đất, v.v… và v.v… Nhờ thủ
pháp này Gacxia Macket giúp chúng ta phân biệt những nhân
vật cùng tên trong gia đình Buênđya vốn có thói quen lấy tên
[2]
cha mẹ đặt cho con . Chúng ta dễ dàng nhớ và phân biệt
Hôsê Accađiô Buênđya, người sáng lập ra làng Macônđô với
Hôsê Accađiô kẻ đi dòng quanh thế giới, với Accađiô Hôsê
tên bạo ngược, với Hôsê Accađiô Sêgunđô kẻ trầm tư lánh đời
và Hôsê Accađiô kẻ đi tu không đắc đạo. Chúng ta nhớ và
phân biệt ngài đại tá Aurêlianô Buênđya, người phát động ba
mươi hai cuộc chiến, với Aurêlianô Sêgunđô kẻ trác táng, với
Aurêlianô Babilônia người thông minh chịu học đã đọc được
văn bản tiếng Phạn do Menkyađêt viết trên những tấm da
thuộc và với Aurêlianô kẻ bị kiến tha. Dĩ nhiên ngoài những
đặc điểm bên ngoài làm nổi bật tính cách nhân vật, những
Hôsê Accađiô và những Aurêlianô còn được định vị bởi chức
vụ nghề nghiệp và thế hệ. Nhưng nếu chúng không được đặc
điểm hoá bằng những cá tính khác thường và dị thường, chúng
ta sẽ dễ dàng nhầm lẫn bởi chúng giống nhau. Khi còn bé bao
giờ họ cũng ngoan ngoãn, đôi khi nhút nhát, hay nghịch ngợm.
Ðiển hình cho sự giống nhau này là trường hợp hai cậu bé sinh
đôi Nhưng càng lớn họ càng khác nhau. Những Aurêlianô có
trí thông minh tuyệt vời nhưng lại mắc chứng trầm tư, ủ dột và
chán đời. Trong khi đó những Hôsê Accađiô bao giờ cũng
khoẻ mạnh, táo gan và sống chan hoà. Hai tuyên nhân vật này
có lúc hoán vị tư chất cho nhau. Ðó là trường hợp hai anh em
sinh đôi: Hôsê Accađiô và Aurêlianô Sêgunđô. Những đặc tính
giống nhau này là yếu tố di truyền của ông tổ Hôsê Accađiô
Buênđya. Ở ông tổ này, chúng ta thấy vừa có sức mạnh cơ bắp
vừa có sức mạnh trí tuệ vừa manh động táo bạo, bốc đồng vừa
có ý chí mạnh mẽ và kiên quyết. nhưng đức tính ấy được di
truyền lại cho đám cháu con theo hai nhánh: những Hôsê
Accađiô và những Aurêlianô. Cái ông tổ này còn di truyền lại
cho đám cháu con cả nỗi cô đơn hoài nhớ do lương tri bị dằn
vặt trước cái chết của Anxiô Agliđa.
Tuy là những người khoẻ mạnh, thông minh, có ý chí và nghị
lực phi thường, nhưng những Hôsê và những Aurêlianô bao
giờ cũng thất bại, cũng phải sống trong cảnh cô đơn.
Chính sự giống nhau này đã gây cho Ucsula Igoaran luôn luôn
có cảm giác thời gian quay tròn vì bà lão cứ nhận thấy các thế
hệ sau giống hệt thế hệ trước. Khi về già, bà lão luôn luôn
nhầm lẫn Hôsê Accađiô Sêgunđô và Aurêlianô Babilô mà với
ngài đại tá Aurêlianô Buênđya, con trai bà. Pila Tecnêra cũng
nêu ra những nét tương đồng giữa các thế hệ trong dòng họ
Buênđya. Hiển nhiên, chúng ta thấy rằng cái sự lặp lại ấy có
được là do thời gian của người kẻ chuyện thứ hai chuyển động
theo một đường tròn khép kín. Cái vòng tròn lớn nhất là cái
vòng tròn dòng họ Buênđya chạy trốn tội loạn luân - đi lập
làng mới - phạm tội loạn luân và bị tuyệt diệt. Trong cái dòng
tròn lớn này có các vòng tròn nhỏ, những mảnh vụn của thời
gian, trong đó bảy thế hệ dòng họ
Tên truyện : Trăm Năm Cô Đơn
Tác giả : Gabriel Garcia Márquez
Dịch giả : Nguyễn Trung Đức
Thể loại : Văn học nước ngoài
Nhà xuất bản : Văn Học
Năm xuất bản : 2003
Số trang : 484
Kích thước : 13 x 19 cm
Trọng lượng : 530 g
Số quyển / 1 bộ : 1
Hình thức bìa : Bìa cứng
Giá bìa : 55.000 VNĐ
Nguồn : vnthuquan.net
Ebook: http://daotieuvu.blogspot.com
Mục Lục
Lời giới thiệu
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
Chương 18
Chương 19
Chương Kết
Lời giới thiệu
Tiểu thuyết đạt giải noben văn học năm 1982
Nhà văn Gabriel Garcia Márquez
Cho đến nay Trăm năm cô đơn vẫn là cuốn tiểu thuyết lớn
nhất của Gabrien Gacxia Maket (Gabriel Garcia Márquez,
1928), nhà văn Côlômbia, người được giải Nôben về văn học
năm 1982. Trăm năm cô đơn ra đời (1967) đã gây dư luận sôi
nổi trên văn đàn Mỹ Latinh và lập tức được cả thế giới hâm
mộ. Theo số liệu của tác giả đến năm 1970, Trăm năm cô đơn
đã được in bằng tiếng Tây Ban Nha hơn nửa triệu bản, chưa kể
lần in ở Cuba xã hội chủ nghĩa (một lần hai vạn bản, lần sau
tám vạn bản) và mười bảy hợp đồng xin phép tác giả được
dịch tác phẩm này ra các thứ tiếng khác. Sau gần hai mươi
năm, Trăm năm cô đơn đã có mặt ở khắp nới trên hành tinh
chúng ta để đến với mọi người và mọi nhà. Rõ ràng Trăm năm
cô đơn là một cuốn sách ăn khách mặc dù tác giả của nó không
viết với mục đích câu khách.
Cốt truyện và đề tài
Trăm năm cô đơn là câu chuyện về dòng họ Buênđya tồn tại
bảy thế hệ, người đầu tiên bị trói vào gốc cây và người cuối
cùng đang bị kiến ăn, một dòng họ tự lưu đày vào cõi cô đơn
để chạy trốn tội loạn luân.
Cái tội loạn luân này khởi sự từ việc tên cướp biển Phranxit
Đrăc tấn công Riôacha khiến các cụ tổ của Ucsula Igoaran
phải chuyển đến lập nghiệp ở một làng hẻo lánh. Tại đây các
cụ tổ của Hôsê Accađiô Buênđya đã lập nghiệp bằng nghề
trồng thuốc lá. Qua ba thế kỷ, hai dòng họ này đã có quan hệ
thâm giao, cháu chắt họ lấy lẫn nhau dẫn tới thảm hoạ đẻ ra
một người đàn ông có đuôi lợn. Chính cái gương tày liếp này
đã khiến cha mẹ Hôsê Accađiô Buênđya và Ucsula Igoaran
tìm mọi cách ngăn cản nhưng họ vẫn cứ lấy nhau. Khi đã là vợ
chồng rồi và dẫu Hôsê Accađiô Buênđya tuyên bố “dù có đẻ ra
kỳ đà anh cũng cóc cần”. Ucsula Igoaran vẫn sợ đẻ ra đứa con
có đuôi lợn, nên khi đi ngủ bao giờ cô cũng mặc chiếc quần
trinh tiết do mẹ may cho. Sự việc kéo dài hơn một năm khiến
dân làng ngạc nhiên và đồn rằng anh chồng là kẻ bất lực.
Một hôm, bị thua Hôsê Accađiô Buênđya trong một cuộc chọi
gà, Pruđênxiô Aghila không kìm được lòng đã lỡm bạn: “Tao
mừng cho mày và để xem cái con gà này có làm phúc cho vợ
mày không”. Vì lời nói lỡm ấy anh ta phải trả cả tính mạng.
Nhưng không vì thế, người chiến thắng được sống thanh thản,
trái lại lúc nào cũng bị lương tâm dằn vặt đến mức phải bỏ
làng tìm đền một miền đất không được hứa trước để lập ra
làng Macônđô, để tự lưu đày trong cõi cô đơn trăm năm. Rồi
trong cõi cô đơn ấy, những Hôsê Accađiô và những Aurêlianô,
những Rêmêđiôt và những Amaranta đã ra đời, sống cuộc đời
với số phận bi đát dường như đã được định trước: lay lắt trong
nỗi cô đơn và hoài nhớ, thấp thỏm lo phạm tội loạn luân.
Nhưng lo cũng chẳng được. Lúc còn đang thời sinh nở, sau
mỗi lần đẻ Ucsula Igoaran đều cặn kẽ xem con mình có mang
bộ phận nào của con vật không. Về già, cụ luôn luôn nhắc nhở
đám cháu con hãy mở to mắt để nhận mặt họ hàng, đừng
chung đụng xác thịt mà sinh con có đuôi lợn. Nhưng cụ không
thể sống đến hết chuyện để khuyên giải Amaranta Ucsula và
Aurêlianô Babilônia. Vì không biết rõ gốc gác, không nắm
được quan hệ ruột thịt, Amaranta Ucsula và Aurêlianô
Babilônia đã yêu nhau mãnh liệt, ăn nằm với nhau và lấy nhau
với hy vọng tình yêu sẽ cải tạo nòi giống mình. Nhưng họ đã
đẻ ra đứa con quái thai có đuôi lợn và con vật huyền thoại này
đã kết liễu dòng họ Buênđya tồn tại bảy thế hệ. Rõ ràng trong
thế giới cô đơn và hoài nhớ ấy, những người trong dòng họ
Buênđya đã phạm tội loạn luân dù cho họ cô ý chạy trốn tội
loạn luân. Như vậy chúng ta thấy trong Trăm năm cô đơn, loạn
luân là một đề tài đã mở và đóng lại một thiên truyện.
Nhưng sự ra đời và tồn tại của dòng họ Buênđya lại gắn rất
chặt với số phận của làng Macônđô.
Lúc đầu Macônđô là một làng quê hiền hoà. Tại đây chưa một
ai đã ngoài ba mươi tuổi. Macônđô chưa có nghĩa địa, dân trí
Macônđô chưa được khai sáng. Ðứng đầu làng là Hôsê
Accađiô Buênđya, một tộc trưởng. Ông chăn dắt dân Macônđô
theo lề thói của công xã nông thôn. Dân Macônđô sống hiền
lành, không phạm tội giết người nên không cần có quan cai trị
(phần đời) và cha cố (phần hồn). Mặc dù sống biệt lập với thế
giới bên ngoài, dân Macônđô đã biết làm cho làng mình trở
thành một làng quê trù mật và yên vui.
Người Digan, theo tiếng chim hót và tiếng nhạc đồng hồ, đã
tìm được đường đến với Macônđô. Họ mang tới đây biết bao
thứ mới lạ mà dân Macônđô chưa hề biết tới. Họ mang tới
làng nghề thủ công và nghề buôn bán. Họ lập ra phố Thổ Nhĩ
Kỳ.
Macônđô từ một làng quê trở thành một thị trấn. Chính phủ
trung ương phái tới làng một Quan thanh tra. Ðó là ông
Apôlina Môscôtê. Sự có mặt của Quan thanh tra đã làm cho
cuộc sống vốn thanh bình của Macônđô bỗng trở nên bị xáo
trộn. Cuộc nội chiến triền miên và khốc liệt giữa hai phái Bảo
hoàng và Tự do đã nhiều phen tàn phá Macônđô, làm cho dân
chúng phải nhiều phen điêu đứng. Tương ứng với thời kỳ này
của Macônđô là sự trưởng thành của thế hệ thứ hai dòng họ
Buênđya mà người tiêu biểu là đại tá Aurêlianô Buênđya.
Ngài đã phát động ba mươi hai cuộc chiến và ngài phải chịu
thất bại hoàn toàn, buộc phải kí hiệp định đình chiến
Neclanđia mà thực chất của bản hiệp định này là sự đầu hàng
của lực lượng Tự do trước lực lượng Bảo hoàng.
Nhờ có đường xe lửa, Macônđô thực sự giao lưu với thế giới
bên ngoài. Phim ảnh, máy phát điện, máy hát, gái điếm, khách
du lịch đã tràn ngập Macônđô. Công ty chuối (thực chất là
Công ty hoa quả Mỹ) cũng đến đây và lập đồn điền chuối. Dân
tứ xứ đổ về Macônđô. Cuộc sống Macônđô sầm uất lên. Giai
đoạn này của Macônđô tương ứng với thế hệ thứ tư dòng họ
Buênđya mà người tiêu biểu là hai anh em sinh đôi: Aurêlianô
Sêgunđô và Hôsê Accađiô Sêgunđô. Aurêlianô Sêgunđô to
khoẻ đầy sinh lực, sôi nổi sống hết mình trong cõi đời thế tục.
Ngược lại Hôsê Accađiô Sêgunđô vóc người mảnh khảnh
nhưng rất thông minh, đã tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh
của công nhân chuối đòi cải thiện sinh hoạt và tăng lương.
Người Mỹ, ở đây là ngài Trao, rất xảo quyệt và tráo trơ tìm
mọi cách thoái thác những yêu cầu chính đáng của công nhân.
Khi cuộc đấu tranh lên đến cao trào, người Mỹ đã thẳng tay
tắm máu công nhân bằng một vụ thảm sát tất cả những ai có
mặt ở sân ga và sau đó dùng đoàn tàu dài hơn hai trăm toa chở
xác chết ném xuống biển như Công ty chuối vẫn đổ chuối thối.
Công ty chuối rút khỏi Macônđô. Bằng phép màu, Công ty
chuối đã dìm chết Macônđô trong một trận mưa lụt kéo dài
bốn năm mười một tháng hai ngày và sau đó lại rang khô nó
trong nạn hạn hán kéo dài mười một năm. Macônđô tiêu điều
xơ xác. Cỏ dại, sâu bọ sinh sôi nảy nở nhanh chóng và hung
hãn tiến công con người ngày một quyết liệt hơn để đến một
ngày kia một trận cuồng phong nổi lên xoá Macônđô khỏi mặt
đất này.
Kết cấu và thời gian nghệ thuật
Khi đọc đến Aurêlianô Babilônia giải được mã của
Menkyađêt viết trên những tấm da thuộc, chúng ta nhận thấy
Trăm năm cô đơn là chuyện về dòng họ Buênđya được viết tỉ
mỉ đến từng chi tiết theo phương thức thời gian đồng hiện với
một kết cấu phức tạp và chặt chẽ. Viết được như vậy chính là
vì Gacxia Mackêt đã khởi công viết cuộn sách này từ năm
1950. Khi ấy, ông mới mười bảy tuổi làm một nhà báo tập sự,
từng có một ít truyện ngắn đăng trên các báo chí địa phương.
Sống trên gác xép một toà nhà bốn tầng, nhiều bữa phải ăn
cơm của các cô gái điếm nghèo cùng trọ trong ngôi nhà ấy,
Gacxia Mackêt viết cuốn tiểu thuyết nhan đề Ngôi nhà (La
Casa) bao gồm những chuyện về ngôi nhà có ma, ngôi nhà của
chính ông bà ngoại mình. Ðây là câu chuyện ông biết được
qua miệng người bà ngoại có biệt tài kể chuyện. Và đây cũng
là cuộc nội chiến giữa phái Bảo hoàng và phái Tự do qua
miệng người ông ngoại, một cựu chiến binh của phái Tự do.
Những chuyện này gắn bó với tuổi ấu thơ của nhà văn. ông
phải bỏ dở cuốn sách, có lẽ vì ông còn quá trẻ.
Sau đó chúng ta thấy ông lần lượt cho ra mắt bạn đọc những
tác phẩm như. Ðôi mắt chó xanh (tập truyện, 1955), Lá rụng
(tiểu thuyết, 1955), Ngài đại tá chờ thư (truyện, 1957), Giờ
xấu (tiểu thuyết, 1962) và Ðám tang của bà Mẹ vĩ đại (tập
truyện, 1962). Chúng ta thấy những nhân vật này có mặt nhiều
lần trong các tác phẩm trên và chúng có liên quan với nhau vì
chúng đều ở làng Macônđô hoặc có dịp qua lại làng Macônđô.
Hơn thế nữa, chúng ta thấy nhiều nhân vật đó lại có mặt trong
Trăm năm cô đơn. Như vậy, ta có thể nói rằng qua các trang
này, Gacxia Mackêt đã rèn luyện, thử thách ngòi bút mình, đã
tìm ra được cái giọng điệu độc đáo của mình trước khi bước
vào viết cuốn sách ông từng ấp ủ nhiều năm, đó là Trăm năm
cô đơn. Ông thuộc lòng câu chuyện đến mức có thể kể ngược
rồi kể xuôi cho các bạn mình nghe. Vào một ngày tốt lành năm
1965, ông bảo Mecxeđet Baccha, vợ ông, rằng: “Từ nay em lo
chuyện nhà cửa để anh chuyên viết sách”. Ông dành mười tám
tháng, ngày nào cũng như ngày nào, sáng bắt đầu từ tám giờ,
chiều kết thúc vào lúc ba giờ, cặm cụi viết. Khi viết được hai
trăm trang, ông đọc tiểu thuyết Thế kỷ ánh sáng của nhà văn
Alêhô Cacpentiê. Vì nhận thấy lời văn cuốn sách mình đang
viết na ná giống lời văn của Thế kỷ ánh sáng, ông xé bỏ bản
thảo, bắt đầu viết lại từ đầu. Cuốn sách được phát hành, đã gây
dư luận sôi nổi trên văn đàn Mỹ Latinh. Thành công ấy hoàn
toàn không bất ngờ đối với Gacxia Mackêt vì khi rời ghế nhà
trường ông mang hai niềm tin lớn: chủ nghĩa xã hội và những
cuốn tiểu thuyết hay, vì trách nhiệm của người cầm bút là phải
viết cho thật hay. Trăm năm cô đơn là một trong những cuốn
tiểu thuyết ông mơ ước và đã phấn đấu để có được.
Khi đọc xong Trăm năm cô đơn chúng ta thấy ở cuốn sách này
có hai văn bản. Văn bản một là cái văn bản chúng ta đọc hết
dòng này sang dòng khác chạy suốt từ đầu đến cuối sách. Văn
bản hai là văn bản được Menkyađêt viết trên những tấm da
thuộc. Văn bản hai làm nền cho văn bản một. Tương ứng với
hai văn bản trên có hai người kể chuyện. Một là người kể
chuyện ở văn bản một, chúng tôi gọi là người kể chuyện thứ
nhất, và người kia là Menkyađêt kể chuyện ở văn bản hai,
chúng tôi gọi là người kể chuyện thứ hai. Sau khi đã thuộc
lòng câu chuyện về dòng họ Buênđya do người kể chuyện thứ
hai ghi trên những tấm da thuộc, người kể chuyện thứ nhất,
với tư cách nhà thông thái, người hiểu biết tất cả, theo sở thích
của mình kể lại cho chúng ta nghe chính những câu chuyện ấy.
Rồi trong khi kể cho chúng ta nghe, người kể chuyện thứ nhất
đã vận dụng kết cấu sự kiện để làm nổi bật tính cách một nhân
vật hoặc bản chất một sự kiện bằng cách hội tụ các sự kiện,
các tình tiết theo thứ tự biên niên sử.
Tương ứng với hai người kể chuyện, trong tiểu thuyết Trăm
năm cô đơn có hai thời gian sau đây:
a) Thời gian của người kể chuyện thứ nhất tương ứng với văn
bản một, bắt đầu với việc giới thiệu một nhân vật, rồi đến thế
kỷ, sau đó lại tiếp nối cùng với việc kể tiếp về nhân vật ấy.
Thời gian của người kể chuyện thứ nhất dường như lấp kín
mọi khoảng không gian trong đó nhân vật tồn tại và nó cho ta
cảm quan về toàn bộ cuộc đời nhân vật ấy. Ví dụ: kể về cuộc
đời đại tá Aurêlianô Buênđya, cuốn sách mở đầu: “Rất nhiều
năm sau này, trước đội hành hình, đại tá Aurêlianô Buênđya
đã nhớ lại buổi chiều xa xưa ấy, cái buổi chiều cha chàng dẫn
chàng đi xem nước đá“. Trong sách cái thời điểm Aurêlianô
Buênđya sắp bị hành quyết nằm ở chương thử bảy. Sự kiện cha
chàng dẫn chàng đi xem nước đá lại được kể ngay từ chương
thứ nhất. Như vậy là trong suốt bảy chương đầu cuốn sách, tác
giả nói về cuộc đời niên thiếu, trưởng thành cho đến khi đi trận
của đại tá Aurêlianô. Tiếp đó thời gian của người kể chuyện
thứ nhất mới vận động tiếp để kể cho chúng ta biết về những
hành động, những thất bại chua cay sau này của đại tá
Aurêlianô. Cuộc đời các nhân vật khác như Aurêlianô
Sêgunđô và Aurêlianô Babilônia cũng được trình bày tương
tự. Như vậy, thời gian của người kể chuyện thứ nhất là thời
gian tâm lý gắn với quá trình nhớ lại, quá trình hồi tưởng.
b) Thời gian của người kể chuyện thứ hai gắn với văn bản hai.
Thời gian này là thời gian dòng họ Buênđya ra đời, thịnh đạt
và tuyệt diệt. Nhưng vì dòng họ này là một dòng họ đã được
khẳng định, không phát triển tới một tương lai nào nên thời
gian của người kể chuyện thứ hai chuyển động vòng tròn.
Thời gian của người kể chuyện thứ hai là thời gian cốt truyện
mang tính biên niên sử, nó là thời gian thực tại, tồn tại độc lập
với ý thức của người kể chuyện thứ nhất.
Trong Trăm năm cô đơn chúng ta thấy hai loại thời gian này
đan bện lấy nhau, hoà quyện vào nhau, trong đó thời gian của
người kể chuyện thứ hai, thời gian thực tại, giữ vai trò then
chốt, tạo thành thời gian nghệ thuật của tác phẩm, phản ánh
được đặc trưng trì động, chậm phát triển cua Mỹ Latinh: “Xét
về mặt hình thức mà nói thời gian của sự chậm phát triển
thường vận động theo chu kỳ khép kín và về mặt kỹ thuật mà
nói nó thường bị chia vụn thành các khoảnh khắc. Nó có tính
chất vận động theo chu kỳ khép kín, là vì cái quá trình lịch sử
không bao giờ được kết thúc. Khởi nghĩa không bao giờ có tác
động đẩy sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc đi tới nền
độc lập thật sự. Ðất nước không bao giờ đi tới độc lập thực sự.
Cá nhân không bao giờ đi tới sự tự ý thức hoàn toàn. Tất cả
đều thay đổi đều chuyển hoá nhưng tất cả đều giẫm chân tại
[1]
chỗ” .
Thời gian đa chiều, thời gian nghệ thuật của Trăm năm cô đơn
là một thành tựu của Gacxia Macket. Nhưng thời gian nghệ
thuật của tác phẩm chỉ đạt hiệu quả nghệ thuật cao khi Gacxia
Macket tạo ra được một Macônđô, sản phẩm tuyệt vời của hư
cấu nghệ thuật. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra Atacarata là
nguyên mẫu của Macônđô vì trong tác phẩm, nhất là phần
cuối, chúng ta có thể nhận ra những người thật việc thật của
Atacarata, quê hương của tác giả. Ví dụ theo Hecman Vacgat,
nhà phê bình văn học Côlômbia, bạn thân của Gacxia Macket,
thì cụ già bán sách cổ người Catalunha chính là cụ Ramôn
Viniêt. Bốn người bạn trẻ chơi thân với nhau chính là tác giả
(vai Gabrien) và các bạn của ông như Anva chính là nhà văn
Anvarô Xêpêda: Xamuđiô, Vacgat chính là nhà phê bình văn
học Hecman Vacgat và Anphôrô chính là hoạ sĩ Anphônxô
Phuênmađô. Dù có thế đi nữa Macônđô vẫn không phải là
Atacarata mà ngược lại Macônđô là bất kì một thành phố nào
của Côlômbia nói riêng, của Mỹ Latinh nói chung. Macônđô
là một địa danh hư cấu đủ sức dung nạp mọi chuyện, từ
chuyện có thực đến chuyện tưởng tượng - dù tưởng tượng theo
nguyên tắc hư cấu nghệ thuật hay tưởng tượng theo nguyên tắc
huyền thoại. Nhờ vậy, thực tại đời sống ùa vào tác phẩm một
cách phong phú, đa dạng, không chỉ cái có thực mà còn có cả
cái không có thực theo những cấp độ sau đây:
1. Cái có thực vốn là những sự kiện lịch sử từng xảy ra ở
Côlômbia và Mỹ Latinh được tác giả tái hiện chính xác tới
từng chi tiết. Ðó là cuộc nội chiến triền miên và khốc liệt giữa
phái Bảo hoàng và phái Tự do. Sĩ quan hai phái ban ngày đánh
nhau kịch liệt, ban đêm làm bạn cờ bạc. Trong Trăm năm cô
đơn, điều đó được phản ảnh trong quan hệ bạn bè giữa đại tá
Aurêlianô và tướng Raken Môncađa.
2. Cái có thực vốn là cái lạc hậu, cổ hủ của Mỹ Latinh được
tác giả tái hiện trong tác phẩm theo phương pháp phúng dụ.
Chính nhờ thế, giọng điệu hài hước đã nổi đậm trong Trăm
năm cô đơn. Ví dụ: đá nam châm, kính lúp, thước đo góc, la
bàn, nước đá (ở phần đầu), máy hát, máy nổ, phim ảnh, xe lửa
(ở phần cuối). Ðó là những công cụ từng được sáng chế và sử
dụng phổ biến trên thế giới nhưng vẫn là những thứ tân kì đối
với dân chúng Macônđô.
3. Cái có thực mang tính chất kì diệu được tác giả đưa vào tác
phẩm. Ðó là khả năng ngoại cảm tuyệt vời của đại tá
Aurêlianô Buênđya. Ðó là sự đồng cảm tuyệt đối giữa hai chú
bé sinh đôi khi người này uống nước chanh thì người kia, mặc
dù không uống, vẫn cứ nói đúng trăm phần trăm là nước chanh
không pha đường..
4. Cái có thực được nhà văn tưởng tượng theo nguyên tắc
huyền thoại hoá đẩy nó tới mức phi thường hoặc quái dị. Ðó là
trường hợp Rêmêđiôt - Người đẹp là một cô hầu người
Anhđiêng. Cô ta vốn không đẹp. Cô ta vô cớ bỏ nhà chủ và
chủ nhà không hay biết cô ta bỏ đi lúc nào và đi đâu. Trong
Trăm năm cô đơn, cái cô người ở ấy đã trở thành người trong
gia đình, người đẹp và cô ta đã bay lên trời vì cô ta là hiện
thực là cái đẹp không thuộc cõi thế tục này. Ngược lại với
trường hợp cô gái là vụ thảm sát hơn ba ngàn người là chuyện
có thực từng xảy ra ở Côlômbia vào cuối những năm hai mươi
thế kỉ này, nhưng đã được Gacxia Mackêt huyền thoại hoá
theo hướng quái dị để bộc lộ bản chất xấu xa, đê tiện, tàn nhẫn
của tư bản Mỹ.
5. Cái không có thực do nhà văn căn cứ vào cảm quan cửa
mình trước thực tại xã hội mà tưởng tượng ra rồi đưa vào tác
phẩm theo nguyên tắc huyền thoại hoá. Mưa hoa trong đám
tang của Hôsê Accađiô Buênđya là cảm quan xót thương của
tác giả trước một con người đầy nghị lực, đầy thông minh,
luôn đam mê hiểu biết. Trận mưa lụt là cảm quan của tác giả
trước thực tại trì động đã đến ngày tận thế của xã hội Mỹ
Latinh. Cái đuôi con lợn của thằng bé cuối cùng trong dòng họ
Buênđya là cảm quan của tác giả về loại người chưa thành
người hoặc đã bị hạ cấp dưới mức người.
Nhân vật và thông điệp
Thành công của Gacxia Macket trong việc tạo ra một không
gian và thời gian nghệ thuật như trên đã mở ra một khả năng to
lớn trong việc xây dựng các nhân vật có cá tính. Chúng ta dễ
dàng nhận ra những nhân vật trong Trăm năm cô đơn là những
nhân vật siêu mẫu, tức là những con người phi thường, dị hợm
và quái dị. Nhờ tính chất siêu mẫu nầy, các nhân vật trong
Trăm năm cô đơn đã gây hào hứng cho độc giả để rồi mãi mãi
đọng lại trong tâm trí bạn đọc. Quả vậy, trong Trăm năm cô
đơn có khoảng sáu mươi nhân vật, kẻ cả chính lẫn phụ. Nhân
vật nào cũng có cá tính rất sông động trước mắt chúng ta.
Thành công này có được là nhờ Gacxia Macket đã vận dụng
và nâng cao thủ pháp xây dựng nhân vật của truyện kể dân
gian: chỉ chấm phá đôi nét còn nhường chỗ cho trí tưởng
tượng của người đọc người nghe. Tuỳ từng nhân vật cụ thể,
ông thấy cần nhấn mạnh nét cá tính nào thì ông tập trung miêu
tả những biểu hiện của cá tính ấy. Cần phải làm nổi bật tư chất
thị dân của Piêtrô Crêspi thì ông miêu tả và chỉ miêu tả cái bàn
tay có nước da mai mái xanh của anh ta. Cần làm nổi bật trái
tim yêu rạo rực của Pila Tecnêra, Gacxia Macket luôn nhấn
mạnh đến cái mùi khen khét phả ra từ nách ả, đến cái tiếng
cười khanh khách của ông như tiếng gù cù cù rục của con bồ
câu. Cần làm nổi bật tư chất rầu rĩ của đại tá Aurêlianô
Buênđya ông nhấn mạnh tiếng khóc từ trong bụng mẹ của đại
tá. Cần làm nổi bật tư chất trác táng, đam mê rượu chè và hội
hè của Aurêlianô Sêgunđô ông nhắc đi nhắc lại nhiều lần cái
câu nói đầy khẩu khí của anh ta: “Hỡi những con bò cái hãy
dạng háng ra kẻo cuộc đời ngắn ngủi lắm” v.v… và v.v…
Như vậy chúng ta thấy mỗi nhân vật được khu biệt hoá với các
nhân vật khác bởi chỉ một hoặc vài ba điểm. Trong nhiều
trường hợp, những đặc điểm này được phóng đại đến mức quái
dị như những chiếc mặt nạ. Và do đó nhân vật trở thành siêu
mẫu gây ấn tượng sâu sắc trong người đọc. Chúng ta không
thể quên được Babilônia, anh thợ cơ khí của Công ty chuối với
đàn bướm vàng, không thể quên được Rêmêđiôt Người đẹp
với luồng khí độc có hiệu quả trong việc làm chết những kẻ
đam mê cô do không biết cách chứng tỏ tình yêu của mình
không thể quên được Menkyađêt với chiếc mũ cánh quạ không
thể quên được Pêtra Côtêt mà tình dục của cô ta có ảnh hưởng
quyết định đến tính mắn đẻ của gia súc không thể quên được
Rêbêca, cô gái nặng hoài nhờ ăn đất, v.v… và v.v… Nhờ thủ
pháp này Gacxia Macket giúp chúng ta phân biệt những nhân
vật cùng tên trong gia đình Buênđya vốn có thói quen lấy tên
[2]
cha mẹ đặt cho con . Chúng ta dễ dàng nhớ và phân biệt
Hôsê Accađiô Buênđya, người sáng lập ra làng Macônđô với
Hôsê Accađiô kẻ đi dòng quanh thế giới, với Accađiô Hôsê
tên bạo ngược, với Hôsê Accađiô Sêgunđô kẻ trầm tư lánh đời
và Hôsê Accađiô kẻ đi tu không đắc đạo. Chúng ta nhớ và
phân biệt ngài đại tá Aurêlianô Buênđya, người phát động ba
mươi hai cuộc chiến, với Aurêlianô Sêgunđô kẻ trác táng, với
Aurêlianô Babilônia người thông minh chịu học đã đọc được
văn bản tiếng Phạn do Menkyađêt viết trên những tấm da
thuộc và với Aurêlianô kẻ bị kiến tha. Dĩ nhiên ngoài những
đặc điểm bên ngoài làm nổi bật tính cách nhân vật, những
Hôsê Accađiô và những Aurêlianô còn được định vị bởi chức
vụ nghề nghiệp và thế hệ. Nhưng nếu chúng không được đặc
điểm hoá bằng những cá tính khác thường và dị thường, chúng
ta sẽ dễ dàng nhầm lẫn bởi chúng giống nhau. Khi còn bé bao
giờ họ cũng ngoan ngoãn, đôi khi nhút nhát, hay nghịch ngợm.
Ðiển hình cho sự giống nhau này là trường hợp hai cậu bé sinh
đôi Nhưng càng lớn họ càng khác nhau. Những Aurêlianô có
trí thông minh tuyệt vời nhưng lại mắc chứng trầm tư, ủ dột và
chán đời. Trong khi đó những Hôsê Accađiô bao giờ cũng
khoẻ mạnh, táo gan và sống chan hoà. Hai tuyên nhân vật này
có lúc hoán vị tư chất cho nhau. Ðó là trường hợp hai anh em
sinh đôi: Hôsê Accađiô và Aurêlianô Sêgunđô. Những đặc tính
giống nhau này là yếu tố di truyền của ông tổ Hôsê Accađiô
Buênđya. Ở ông tổ này, chúng ta thấy vừa có sức mạnh cơ bắp
vừa có sức mạnh trí tuệ vừa manh động táo bạo, bốc đồng vừa
có ý chí mạnh mẽ và kiên quyết. nhưng đức tính ấy được di
truyền lại cho đám cháu con theo hai nhánh: những Hôsê
Accađiô và những Aurêlianô. Cái ông tổ này còn di truyền lại
cho đám cháu con cả nỗi cô đơn hoài nhớ do lương tri bị dằn
vặt trước cái chết của Anxiô Agliđa.
Tuy là những người khoẻ mạnh, thông minh, có ý chí và nghị
lực phi thường, nhưng những Hôsê và những Aurêlianô bao
giờ cũng thất bại, cũng phải sống trong cảnh cô đơn.
Chính sự giống nhau này đã gây cho Ucsula Igoaran luôn luôn
có cảm giác thời gian quay tròn vì bà lão cứ nhận thấy các thế
hệ sau giống hệt thế hệ trước. Khi về già, bà lão luôn luôn
nhầm lẫn Hôsê Accađiô Sêgunđô và Aurêlianô Babilô mà với
ngài đại tá Aurêlianô Buênđya, con trai bà. Pila Tecnêra cũng
nêu ra những nét tương đồng giữa các thế hệ trong dòng họ
Buênđya. Hiển nhiên, chúng ta thấy rằng cái sự lặp lại ấy có
được là do thời gian của người kẻ chuyện thứ hai chuyển động
theo một đường tròn khép kín. Cái vòng tròn lớn nhất là cái
vòng tròn dòng họ Buênđya chạy trốn tội loạn luân - đi lập
làng mới - phạm tội loạn luân và bị tuyệt diệt. Trong cái dòng
tròn lớn này có các vòng tròn nhỏ, những mảnh vụn của thời
gian, trong đó bảy thế hệ dòng họ
 





