BẢN TIN HÔM NAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ SÁCH LẬT TRANG

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

HỌC LIỆU SỐ

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN

Menu chức năng 16

Menu chức năng 17

Văn hóa đọc trong thời đại số

10 vạn câu hỏi vì sao KHMT

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Mỹ Nhung
Ngày gửi: 16h:29' 14-11-2025
Dung lượng: 4.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mười vạn câu hỏi vì sao là bộ sách phổ cập khoa học dành cho lứa tuổi
thanh, thiếu niên, dùng hình thức trả lời hàng loạt câu hỏi "Thế nào?", "Tại
sao?" để trình bày một cách đơn giản, dễ hiểu một khối lượng lớn các khái
niệm, các phạm trù khoa học, các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự
nhiên, xã hội và con người, giúp cho người đọc hiểu được các lí lẽ khoa học
tiềm ẩn trong các hiện tượng, quá trình quen thuộc trong đời sống thường
nhật, tưởng như ai cũng đã biết nhưng không phải người nào cũng giải thích
được.
Bộ sách được dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc do NXB Thiếu niên
Nhi đồng Trung Quốc xuất bản. Do tính thiết thực tính gần gũi về nội dung
và tính độc đáo về hình thức trình bày mà ngay khi vừa mới xuất bản ở
Trung Quốc, bộ sách đã được bạn đọc tiếp nhận nồng nhiệt, nhất là thanh
thiếu niên, tuổi trẻ học đường, Do tác dụng to lớn của bộ sách trong việc
phổ cập khoa học trong giới trẻ và trong xã hội, năm 1998 Bộ sách Mười
vạn câu hỏi vì sao đã được nhà nước Trung Quốc trao "Giải thưởng Tiến bộ
khoa học kĩ thuật Quốc gia", một giải thưởng cao nhất đối với thể loại sách
phổ cập khoa học của Trung Quốc và được vinh dự chọn là một trong "50
cuốn sách làm cảm động Nước Cộng hoà" kể từ ngày thành lập nước.
Bộ sách Mười vạn câu hỏi vì sao có 12 tập, trong đó 11 tập trình bày các
khái niệm và các hiện tượng thuộc 11 lĩnh vực hay bộ môn tương ứng: Toán
học, Vật lí, Hoá học, Tin học, Khoa học môi trường, Khoa học công trình,
Trái Đất, Cơ thể người, Khoa học vũ trụ, Động vật, Thực vật và một tập
hướng dẫn tra cứu. Ở mỗi lĩnh vực, các tác giả vừa chú ý cung cấp các tri
thức khoa học cơ bản, vừa chú trọng phản ánh những thành quả và những
ứng dụng mới nhất của lĩnh vực khoa học kĩ thuật đó. Các tập sách đều được
viết với lời văn dễ hiểu, sinh động, hấp dẫn, hình vẽ minh hoạ chuẩn xác,
tinh tế, rất phù hợp với độc giả trẻ tuổi và mục đích phổ cập khoa học của
bộ sách.
Do chứa đựng một khối lượng kiến thức khoa học đồ sộ, thuộc hầu hết các
lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội, lại được trình bày với một văn phong
dễ hiểu, sinh động, Mười vạn câu hỏi vì sao có thể coi như là bộ sách tham
khảo bổ trợ kiến thức rất bổ ích cho giáo viên, học sinh, các bậc phụ huynh
và đông đảo bạn đọc Việt Nam.
Trong xã hội ngày nay, con người sống không thể thiếu những tri thức tối
thiểu về văn hóa, khoa học. Sự hiểu biết về văn hóa, khoa học của con người

càng rộng, càng sâu thì mức sống, mức hưởng thụ văn hóa của con người
càng cao và khả năng hợp tác, chung sống, sự bình đẳng giữa con người
càng lớn, càng đa dạng, càng có hiệu quả thiết thực. Mặt khác khoa học
hiện đại đang phát triển cực nhanh, tri thức khoa học mà con người cần nắm
ngày càng nhiều, do đó, việc xuất bản Tủ sách phổ biến khoa học dành cho
tuổi trẻ học đường Việt Nam và cho toàn xã hội là điều hết sức cần thiết, cấp
bách và có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa nhân văn rộng lớn. Nhận thức được điều
này, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cho xuất bản bộ sách Mười vạn câu
hỏi vì sao và tin tưởng sâu sắc rằng, bộ sách này sẽ là người thầy tốt, người
bạn chân chính của đông đảo thanh, thiếu niên Việt Nam đặc biệt là HS, SV
trên con đường học tập, xác lập nhân cách, bản lĩnh để trở thành công dân
hiện đại, mang tố chất công dân toàn cầu.
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

1. Vì sao phải bảo vệ môi trường?
Ngày nay, việc bảo vệ môi trường đã trở thành nhận thức chung của mọi
người. Nhưng vì sao lại phải bảo vệ môi trường? Bảo vệ môi trường như thế
nào? Để trả lời những vấn đề này ta phải bắt đầu từ vấn đề nghiên cứu môi
trường.
Sau Chiến tranh thế giới thứ II, sức sản xuất xã hội tăng vọt. Việc sử dụng
rộng rãi các loại máy móc đã tạo ra một lượng lớn của cải cho loài người,
nhưng một lượng khổng lồ các chất phế thải công nghiệp cũng đã gây nên ô
nhiễm môi trường rất nghiêm trọng. Một lượng lớn các chất độc hóa học sau
khi thải vào môi trường, do khuếch tán, chuyển dời, tích lũy và chuyển hóa
làm cho môi trường không ngừng xấu đi, uy hiếp nghiêm trọng đến sự sống
của loài người và các sinh vật khác. Năm 1962, nhà nữ sinh vật học Rachel
Carson người Mỹ đã xuất bản tác phẩm “Mùa xuân lặng lẽ”. Cuốn sách miêu
tả tỉ mỉ sự phá hoại sinh thái do lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật: “Những
bệnh tật kì lạ không lường được đã giết chết hàng loạt chim muông; bò, cừu
lâm bệnh và chết đột tử. Trẻ em đang chơi đùa bỗng nhiên ngã quỵ, sau mấy
giờ chết ngay không chữa nổi... Trên mặt đất chỉ còn sót lại một vài con
chim lẻ loi thoi thóp... Đó là một mùa xuân không có sự sống”. Quyển sách
đã gây chấn động dư luận trên toàn thế giới. Người ta bỗng kinh ngạc phát
hiện ra rằng: trong một thời gian ngắn chỉ mấy chục năm mà sự phát triển
công nghiệp đã mang lại cho nhân loại một môi trường độc hại. Hơn nữa
môi trường bị ô nhiễm đã gây nên sự tổn thương toàn diện, lâu dài và
nghiêm trọng. Loài người bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của việc
bảo vệ môi trường. Do đó những năm đầu thập kỉ 60 ở những nước công
nghiệp phát triển đã dấy lên “phong trào bảo vệ môi trường”, yêu cầu Chính
phủ phải có biện pháp để giải quyết vấn đề ô nhiễm.
Bài học nhân loại không bảo vệ tốt môi trường thực ra đã có từ xưa. Ở
thời cổ đại, những vùng kinh tế tương đối phát triển như Hi Lạp, Trung Cận
Đông, v.v... do việc khai hoang và tưới nước không hợp lí nên đã gây ra
những vùng không có cây cỏ. Ở Trung Quốc thời kì cổ đại, lưu vực Hoàng
Hà là vùng đất tốt nhưng do chặt phá rừng bừa bãi, đất bị xói mòn nghiêm
trọng nên nạn lũ lụt và hạn hán xảy ra liên miên, chất đất ngày càng nghèo
đi. ý thức bảo vệ môi trường cũng không phải ngày nay mới có. Trung Quốc
thời kì cổ đại đã có tư tưởng bảo vệ môi trường rất đơn sơ như câu nói
“Không tát cạn mà chỉ bắt cá, không đốt rừng mà chỉ săn bắn”. Ngày nay,
bảo vệ môi trường không những phải làm cho môi trường không bị ô nhiễm
mà còn phải kế thừa tư tưởng bảo vệ môi trường trước đây, tức là khai thác

tài nguyên một cách hợp lí để đảm bảo có thể tiếp tục khai thác mãi. Chúng
ta cần hiểu rằng: vấn đề then chốt để giải quyết ô nhiễm môi trường là bảo
vệ môi trường. Bảo vệ môi trường chính là để bảo vệ chúng ta.
Để bảo vệ môi trường được tốt hơn, nhiều nước đang ra sức tuyên truyền
rộng rãi ý thức bảo vệ môi trường, chế định những chính sách và pháp luật
để bảo vệ môi trường. Tháng 9/1979, Chính phủ Trung Quốc cũng đã ban bố
“Dự thảo Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”.
Cuối năm 1983, Chính phủ đã triệu tập Hội nghị Bảo vệ môi trường toàn
quốc lần thứ 2. Hội nghị đó đã xác định bảo vệ môi trường là một trong
những quốc sách cơ bản của Trung Quốc.
Từ khoá: Môi trường; Bảo vệ môi trường; Rachel Carson.

2. Ai là người đầu tiên đưa ra yêu cầu bảo vệ
môi trường?
Người đầu tiên đưa ra yêu cầu bảo vệ môi trường là nhà nữ sinh vật học
người Mỹ Rachel Carson.
Bà Carson sinh năm 1907 ở một thị trấn phong cảnh rất đẹp thuộc bang
Penncylvania. Từ nhỏ bà đã rất yêu thiên nhiên. Bà là sinh viên trường Đại
học Penncylvania. Ban đầu học chuyên ngành Anh văn. Năm thứ ba, chuyển
sang học khoa Sinh vật vì bà rất say mê rừng, biển và các sinh vật hoang dã,
về sau bà chuyển sang học Sinh thái học. Năm 1929, tốt nghiệp loại xuất sắc
và nhận được học vị thạc sĩ Sinh thái học, sau đó bà làm giáo sư sinh thái
học ở Đại học Malilan. Bà thường dành các kì nghỉ hè để đi sâu nghiên cứu
sinh thái học biển. Từ những năm 40, bà bắt đầu biên soạn và lần lượt cho
xuất bản những tác phẩm có liên quan tới biển và sinh vật biển, như “Dưới
gió biển”, “Biển xung quanh chúng ta”, “Ven bờ biển” v.v... Những tác
phẩm này đã lần lượt ra đời, trong đó cuốn “Biển xung quanh chúng ta” đã
nhận được Giải thưởng Quốc gia, trong một thời gian ngắn số lượng phát
hành lên đến 20 vạn bản.
Từ thập kỉ 40, bà Carson đã cùng đồng nghiệp đưa ra lời cảnh báo về sự
nguy hiểm do tình trạng lạm dụng thuốc DDT và những loại thuốc diệt côn
trùng khác. Bắt đầu từ năm 1955, bà đã bỏ ra 4 năm để nghiên cứu ảnh
hưởng của thuốc trừ sâu đối với môi trường sinh thái. Bà đã chịu đựng muôn
vàn vất vả, có mặt ở các vùng có dùng thuốc trừ sâu, tự mình quan sát, lấy
mẫu, phân tích và trên cơ sở đó viết nên tác phẩm “Mùa xuân lặng lẽ”.

Tác phẩm này đã miêu tả một cách sinh động cảnh tượng môi trường sống
của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng; chứng minh con người có mối quan
hệ mật thiết với không khí, biển, sông ngòi, đất đai và các sinh vật xung
quanh; vạch trần sự phá hoại môi trường sinh thái của thuốc trừ sâu. Nó cảnh
báo hoạt động của con người đã làm ô nhiễm môi trường. Điều đó không
những uy hiếp sự sinh tồn của nhiều loài sinh vật mà còn làm nguy hại đến
bản thân cuộc sống của con người. Cuốn sách đã nêu lên một vấn đề quan
trọng trong cuộc sống nhân loại trong thế kỉ XX, đó là vấn đề ô nhiễm môi
trường. Cuốn sách “Mùa xuân lặng lẽ” sau khi xuất bản đã gây nên một tiếng
vang trên thế giới, rất nhanh nó được dịch thành nhiều thứ tiếng và có một
ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Không lâu sau, phong trào bảo vệ
môi trường được dấy lên rầm rộ ở khắp mọi nơi.
Đầu thập kỉ 60, bà Carson tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu của mình. Do lao
động quá mức và vì tiếp xúc lâu dài với các thuốc bảo vệ thực vật, bà đã bị
mắc bệnh ung thư. Năm 1964, bà Carson qua đời. Bà đã cống hiến cuộc đời
mình cho sự nghiệp cứu vãn môi trường.
Từ khoá: Rachel Carson; “Mùa xuân lặng lẽ”.

3. Vì sao nói "Chỉ có một Trái Đất"?
Câu nói “Chỉ có một Trái Đất” xuất hiện sớm nhất trong Hội nghị môi
trường nhân loại do Liên hợp quốc triệu tập năm 1972. “Chỉ có một Trái
Đất” là tiêu đề của bản báo cáo phi chính thức do nhà kinh tế học người Anh
B. Utto và nhà vi sinh vật học người Mỹ R. Tupos đưa ra trong hội nghị với
tiêu đề phụ là “Hãy quan tâm và bảo vệ một hành tinh nhỏ”. Tác giả không
những xuất phát từ tiền đồ của bản thân Trái Đất mà còn tổng hợp từ các góc
độ: xã hội, kinh tế, chính trị, tăng trưởng dân số, lạm dụng tài nguyên môi
trường, ảnh hưởng tiêu cực của kĩ thuật công nghệ, từ sự phát triển mất cân
bằng và những khó khăn của các thành phố trên thế giới, từ đó mà bàn về
vấn đề môi trường, kêu gọi nhân loại phải quản lí Trái Đất một cách tỉnh táo
hơn.
Vì sao nói “Chỉ có một Trái Đất”? Nhân loại từ khi ra đời, tất cả: ăn, mặc,
ở, đi lại, sản xuất và sinh hoạt không có cái gì không dựa vào Trái Đất này
để tồn tại và phát triển. Bầu không khí, rừng núi, biển cả, sông ngòi, đầm hồ,
đất đai, thảo nguyên, các động vật hoang dã trên Trái Đất này đã tạo thành
một hệ thống sinh thái tự nhiên vô cùng phức tạp và quan hệ mật thiết với
nhau, đó chính là môi trường cơ bản để con người dựa vào nhau mà sinh
sống. Đã từ lâu tiến trình văn minh của nhân loại luôn ngừng lại ở sự tước

đoạt và chinh phục thiên nhiên, hầu như xưa nay chưa ai nghĩ đến phải bảo
vệ và báo đáp lại Trái Đất, cái nôi đã nuôi dưỡng con người. Loài người
đồng thời với việc tạo ra những thành quả văn minh cũng đã tước đoạt thiên
nhiên, gây ra cho Trái Đất – nơi chúng ta sinh sống, đầy thương tích. Sự tăng
trưởng dân số và mở rộng sản xuất đã xung đột môi trường, gây nên những
áp lực to lớn. Ngày nay môi trường đang xấu đi, tài nguyên bị cạn kiệt đã trở
thành mối trở ngại lớn nhất cho tiến trình văn minh của nhân loại. Diện tích
rừng toàn cầu năm 1862 ước có khoảng 5,5 tỉ ha, đến thập kỉ 70 của thế kỉ
XX chỉ còn không đến 2,6 tỉ ha. Vì mưa rừng nhiệt đới có vai trò rất quan
trọng đối với điều tiết khí hậu toàn cầu, cho nên một diện tích lớn rừng bị
chặt phá sẽ gây ra hậu quả rất nghiêm trọng cho khí hậu. Do chế độ canh tác
không hợp lí nên diện tích đất đai trên thế giới bị phong thực, kiềm hóa ngày
càng tăng. Căn cứ dự đoán của các cơ quan Liên hợp quốc, vì đất đai bị xâm
thực nên hàng năm trên thế giới bị mất đi 24 tỉ tấn đất màu, diện tích sa mạc
hóa hàng năm tăng thêm 6 triệu ha.

Nếu tiếp tục phát triển với tốc độ đó cộng thêm diện tích do phát triển đô
thị và giao thông lấn chiếm thì toàn thế giới sau 20 năm nữa sẽ mất đi 1/3
tổng diện tích canh tác, sản lượng lương thực sẽ bị uy hiếp nghiêm trọng.
Ngoài ra vì diện tích sinh sống của sinh vật hoang dã ngày càng bị thu hẹp,
con người lại săn bắt tự do, cộng thêm nạn ô nhiễm môi trường ngày càng
tăng, nguồn gien di truyền của động, thực vật trên thế giới chắc chắn bị giảm
sút nhanh chóng. Đó là một tổn thất không gì bù đắp được đối với loài
người.
Dù là nước phát triển hay nước đang phát triển đều nhận thức được rằng:
vấn đề môi trường đang gây cản trở to lớn đến khả năng phát triển. Không
giải quyết vấn đề môi trường thì không những tiến trình văn minh của nhân
loại bị ảnh hưởng mà ngay bản thân sự sống của con người cũng bị uy hiếp
nghiêm trọng. Năm 1992 ở Brasilia – thủ đô Braxin, Liên hợp quốc đã triệu
tập Hội nghị môi trường và phát triển. Trong hội nghị này tất cả các đại biểu
đã mặc niệm hai phút vì Trái Đất. Hai phút mặc niệm đó thể hiện nhân loại

đang sám hối, phản tỉnh và nghĩ về Trái Đất: chúng ta chỉ có một Trái Đất !

Từ khoá: Vấn đề môi trường.

4. Vì sao có "Ngày Trái Đất"?
Trong những thập kỉ 50 – 60 của thế kỉ XX, ở phương Tây một số nước
công nghiệp phát triển đã liên tiếp xảy ra nhiều sự kiện gây tổn hại chung,
chấn động toàn thế giới. Ngày càng có nhiều người cảm thấy chúng ta đang
sống trong một môi trường thiếu an toàn.
Năm 1962, nhà nữ sinh vật học Mỹ Rachel Carson đã xuất bản cuốn sách
nhan đề: “Mùa xuân lặng lẽ”. Trong sách bà miêu tả tỉ mỉ các loại thuốc bảo
vệ thực vật đã đem lại những nguy cơ nghiêm trọng cho môi trường và chỉ rõ
không những nó gây hại cho môi trường sinh sống của các loài sinh vật mà
còn nguy hại cho cả con người. Cuốn sách đó rất nhanh được dịch và xuất
bản thành nhiều thứ tiếng, gây nên ảnh hưởng to lớn trên toàn thế giới. Nó
khiến cho người ta thức tỉnh, dấy lên một phong trào bảo vệ môi trường,
chống ô nhiễm, chống gây tổn hại chung.
Ngày 22/4/1970, dưới sự lãnh đạo của một số nghị viên quốc hội ở một số
nước, những nhà hoạt động xã hội nổi tiếng và những người bảo vệ môi
trường, một vạn trường trung và tiểu học, 2.000 trường đại học ở Mỹ và hơn
2 triệu người thuộc các đoàn thể ở nhiều nước khác nhau đã tiến hành một
cuộc mít tinh và diễu hành rầm rộ để tuyên truyền, yêu cầu các chính phủ
phải có biện pháp bảo vệ môi trường. Ảnh hưởng của phong trào này rất
nhanh lan rộng ra toàn cầu, do đó ngày 22/4 trở thành một ngày quan trọng
trong lịch sử bảo vệ môi trường – “Ngày Trái Đất”.
Người mở đầu cho hoạt động “Ngày Trái Đất” là nghị viên Nelson - đảng
viên đảng Dân chủ Mỹ. Những năm đầu thập kỉ 60, ông là một người chưa
có địa vị chính trị đáng kể gì ở Mỹ, nhưng vì vấn đề môi trường mà ông cảm
thấy bất an. Hồi đó Tổng thống, Quốc hội, các xí nghiệp Mỹ đều không hề

quan tâm đến vấn đề môi trường. Vậy làm thế nào? Năm 1963, ông đã thuyết
phục Tổng thống Kennơđi diễn thuyết một vòng quanh nước Mỹ, chỉ rõ mức
độ môi trường đang bị xấu đi cho công chúng biết, nhằm gây nên sự quan
tâm và theo dõi của công chúng Mỹ đối với môi trường. Nhưng vì nhiều
nguyên nhân khác nên những hoạt động này chưa thu được kết quả là bao.
Mùa hè 1969, ông Nelson một lần nữa lại đề nghị các trường đại học Mỹ tiến
hành các buổi diễn thuyết về vấn đề môi trường ngay tại các trường và thành
lập ngay các tổ chức nghiên cứu, vạch kế hoạch hành động. Haixơ sinh viên
của Viện pháp học Đại học Havard đang ở độ tuổi 25, lập tức hưởng ứng
nhiệt liệt. Anh ta đã gặp ông Nelson và quyết định tạm thời nghỉ học, toàn
tâm toàn ý đầu tư vào hoạt động bảo vệ môi trường.
Không lâu sau, Haixơ lại mở rộng ý tưởng của ông Nelson, trù bị tiến
hành một loạt hoạt động mang tính xã hội triển khai khắp nước Mỹ. Nelson
đã tiếp thu kiến nghị của Haixơ. Nhưng để tránh kì thi cuối học kì, Haixơ đề
nghị lấy ngày 22/4 năm sau làm “Ngày Trái Đất”. Vào ngày đó sẽ triển khai
những hoạt động bảo vệ môi trường với quy mô lớn trên khắp nước Mỹ.
Tháng 9/1969, trong một lần diễn thuyết ở Xêatô, ông đã công bố kế hoạch
này. Mặc dù đã cảm nhận được trước, nhưng không ngờ công chúng Mỹ
hưởng ứng nhiệt tình và mạnh mẽ đến thế, khiến cho họ cảm thấy kinh ngạc
và được cổ vũ rất nhiều.
Hoạt động “Ngày Trái Đất” lần thứ nhất đã thành công rực rỡ. Nó thúc
đẩy cuộc đấu tranh bảo vệ môi trường ở nước Mỹ phát triển mạnh mẽ. Chỉ
mấy năm sau, Quốc hội Mỹ đã lần lượt thông qua một Luật bảo vệ môi
trường quan trọng gồm 28 điều và năm sau đã thành lập Cục Bảo vệ Môi
trường Quốc gia. Trên thế giới, hoạt động “Ngày Trái Đất” cũng đã thúc đẩy
Liên hợp quốc triệu tập Hội nghị Môi trường nhân loại lần thứ nhất vào năm
1972 và đã thành lập Cục quy hoạch môi trường.
Về sau hàng năm người ta đều tổ chức hoạt động “Ngày Trái Đất”. Ngày
22/4/1990, nhân dịp kỉ niệm 20 năm “Ngày Trái Đất”, trên thế giới có 200
triệu người thuộc 140 quốc gia đã tham gia “Ngày Trái Đất” với các hình
thức khác nhau. Ở Mianma có hoạt động phản đối giết voi; ở Braxin, người
ta đến các sông vùng Amazon để trồng cây; người Luân Đôn ở Anh tổ chức
các hoạt động khuyến khích khách hàng trả lại cho cửa hàng những bao gói
hàng không cần thiết; người Nhật tiến hành hàng trăm hoạt động làm sạch
môi trường; người Pari cưỡi xe đạp đi phố để khỏi thải ra khí ô nhiễm. Tích
cực nhất vẫn là người Mỹ. Ở Oasinhtơn người ta đặt ra ngày “Hiệu suất năng
lượng cao”, “Ngày tái tuần hoàn”, “Ngày tiết kiệm nước”, “Ngày thay thế
vận tải”, v.v... ở vùng Malilen tổ chức người tình nguyện quét đường công
cộng và tham gia trồng cây, vùng Phunia tổ chức “Ngày lễ âm nhạc vì Trái

Đất”; học sinh tiểu học bang California thả côn trùng ra đồng để giết loài côn
trùng có hại thay cho thuốc bảo vệ thực vật; trẻ em thành phố Pantima mặc
quần áo bằng vải tái sinh đi diễu hành.
Từ khoá: “Ngày Trái Đất”; Rachel Carson.

5. Vì sao lấy ngày 5/6 làm "Ngày môi trường
thế giới"?
Dưới ảnh hưởng của những hoạt động “Ngày Trái Đất”, ngày 5/6/1972 ở
Xtốckhôm Thụy Điển, Liên hợp quốc đã triệu tập Hội nghị nhân loại với môi
trường. Hội nghị đã đưa ra khẩu hiệu: “Chỉ có một Trái Đất”. Hội nghị còn
công bố “Tuyên ngôn môi trường nhân loại” nổi tiếng. “Tuyên ngôn môi
trường nhân loại” đưa ra 7 quan điểm và 26 nguyên tắc chung, hướng dẫn và
cổ vũ nhân dân toàn thế giới nỗ lực bảo vệ và cải thiện môi trường cho nhân
loại. “Tuyên ngôn môi trường nhân loại” quy định quyền lợi và nghĩa vụ của
loài người đối với môi trường. Kêu gọi “Vì thế hệ ngày nay và các thế hệ
mai sau mà nhiệm vụ bảo vệ và cải thiện môi trường đã trở thành mục tiêu
chung của nhân loại”. “Mục tiêu này sẽ được thực hiện đồng thời và hài hòa
với hai mục tiêu bảo vệ hòa bình và phát triển kinh tế – xã hội của thế giới”,
“Chính phủ và nhân dân các nước hãy vì bảo vệ và cải thiện môi trường
chung của nhân loại, đưa lại hạnh phúc cho toàn thể nhân dân và các thế hệ
sau mà cố gắng”. Hội nghị cũng kiến nghị lấy ngày khai mạc Đại hội lần này
làm “Ngày Môi trường thế giới”.
Tháng 10/1972, Liên hợp quốc khóa 27 đã thông qua đề nghị của Hội nghị
môi trường nhân loại đề ra, đồng thời quy định ngày 5/6 hàng năm là “Ngày
Môi trường thế giới” để nhân dân các nước mãi mãi ghi nhớ và yêu cầu
Chính phủ các nước hàng năm vào ngày đó phải triển khai các hoạt động
nhằm nhắc nhở mọi người trên thế giới chú ý đến tình trạng ô nhiễm của môi
trường và những nguy hại do hoạt động của con người gây ra đối với môi
trường, nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo vệ và cải thiện môi trường.
“Ngày môi trường thế giới” tượng trưng cho môi trường của nhân loại
chuyển sang giai đoạn phát triển ngày càng tốt đẹp hơn. Nó phản ánh đúng
đắn nhận thức và thái độ của nhân dân các nước đối với vấn đề môi trường.

Tháng 1 năm 1973, Đại Hội đồng Liên hợp quốc căn cứ Quyết định của
Hội nghị Môi trường nhân loại đã thành lập ra Cục quy hoạch Môi trường
của Liên hợp quốc và lập Quỹ Môi trường. Cục quy hoạch Môi trường của
Liên hợp quốc cứ đến ngày 5/6 hàng năm là tiến hành các hoạt động kỉ niệm
“Ngày Môi trường thế giới”, công bố “Thông báo hàng năm về tình trạng
môi trường” và tặng thưởng “500 Huy chương về bảo vệ môi trường toàn
cầu”. “Ngày Môi trường thế giới” hàng năm đều có chủ đề riêng. Việc đặt
tên những chủ đề này nhằm phản ánh các vấn đề chủ yếu về môi trường
trong năm đó và những điểm nóng về môi trường. Vì vậy những chủ đề đó
có tính thực tiễn rất cao. Những chủ đề đã được đưa ra như “Cảnh giác, toàn
cầu đang nóng dần !”, “Chỉ có một Trái Đất”, “Vì sự sống trên Trái Đất”,
“Cứu vãn Trái Đất tức là cứu vãn tương lai của chúng ta” v.v...
Mấy năm qua, nhiều đoàn thể và nhân dân các nước đã triển khai các hoạt
động bổ ích cho “Ngày Môi trường thế giới”, như tuyên truyền tầm quan
trọng về bảo vệ và cải thiện môi trường. “Ngày Môi trường thế giới” đã trở
thành ngày lễ chung của nhân dân toàn cầu.
Từ khoá: Ngày môi trường thế giới.

6. Những ngày kỉ niệm bảo vệ môi trường có
liên quan đến những vấn đề gì?
Ngày kỉ niệm bảo vệ môi trường nổi tiếng nhất là “Ngày Trái Đất” và
“Ngày Môi trường thế giới”. Ngoài ra một số tổ chức quốc tế còn đặt ra một
số ngày lễ khác mục đích nhằm kêu gọi mọi người phải bảo vệ Trái Đất. Ví
dụ: Ngày 21/3 là “Ngày bảo vệ rừng thế giới”. Nhiều nước căn cứ vào đặc
điểm môi trường và nhu cầu của mình còn đặt ra Tết trồng cây. Ví dụ Trung
Quốc chọn ngày 12/3 làm ngày Tết trồng cây.
Ngày 23/3 hàng năm là “Ngày Khí tượng thế giới”. Mục đích là để nhân
dân toàn thế giới nhận thức rằng: bầu khí quyển là tài nguyên chung của
nhân loại, bảo vệ khí quyển đòi hỏi sự nỗ lực chung của mọi người.
Tháng 12/1994, Liên hợp quốc khóa 49 đã quyết định lấy ngày 17/6 hàng
năm làm “Ngày Thế giới chống hoang hóa và chống hạn, lụt” kêu gọi Chính
phủ các nước phải coi trọng chống đất đai sa mạc hóa. Đó là vấn đề có tính
toàn cầu và ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Ngày 11/7/1987 là ngày sinh em bé thứ 5 tỉ của Trái Đất. Năm 1990, Liên
hợp quốc đã quyết định lấy ngày 11/7 hàng năm là “Ngày Dân số thế giới”,
hi vọng để nhân dân các nước chú trọng đến vấn đề dân số, tích cực tìm các
biện pháp để hạn chế gia tăng dân số.
 
Gửi ý kiến

Nhúng mã HTML