Văn hóa đọc trong thời đại số
10 vạn câu hỏi vì sao động vật

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Mỹ Nhung
Ngày gửi: 16h:31' 14-11-2025
Dung lượng: 7.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Mỹ Nhung
Ngày gửi: 16h:31' 14-11-2025
Dung lượng: 7.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mười vạn câu hỏi vì sao là bộ sách phổ cập khoa học dành cho lứa tuổi
thanh, thiếu niên. Bộ sách này dùng hình thức trả lời hàng loạt câu hỏi "Thế
nào?", "Tại sao?" để trình bày một cách đơn giản, dễ hiểu một khối lượng
lớn các khái niệm, các phạm trù khoa học, các sự vật, hiện tượng, quá trình
trong tự nhiên, xã hội và con người, giúp cho người đọc hiểu được các lí lẽ
khoa học tiềm ẩn trong các hiện tượng, quá trình quen thuộc trong đời sống
thường nhật, tưởng như ai cũng đã biết nhưng không phải người nào cũng
giải thích được.
Bộ sách được dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc do Nhà xuất bản
Thiếu niên Nhi đồng, Trung Quốc xuất bản. Do tính thiết thực, tính gần gũi
về nội dung và tính độc đáo về hình thức trình bày mà ngay khi vừa mới xuất
bản ở Trung Quốc, bộ sách đã được bạn đọc tiếp nhận nồng nhiệt, nhất là
thanh thiếu niên, tuổi trẻ học đường. Do tác dụng to lớn của bộ sách trong
việc phổ cập khoa học trong giới trẻ và trong xã hội, năm 1998 Bộ sách
Mười vạn câu hỏi vì sao đã được Nhà nước Trung Quốc trao "Giải thưởng
Tiến bộ khoa học kĩ thuật Quốc gia", một giải thưởng cao nhất đối với thể
loại sách phổ cập khoa học của Trung Quốc và được vinh dự chọn là một
trong "50 cuốn sách làm cảm động Nước Cộng hoà" kể từ ngày thành lập
nước.
Bộ sách Mười vạn câu hỏi vì sao có 12 tập, trong đó 11 tập trình bày các
khái niệm và các hiện tượng thuộc 11 lĩnh vực hay bộ môn tương ứng: Toán
học, Vật lí, Hoá học, Tin học, Khoa học môi trường, Khoa học công trình,
Trái Đất, Cơ thể người, Khoa học vũ trụ, Động vật, Thực vật; ở mỗi lĩnh
vực các tác giả vừa chú ý cung cấp các tri thức khoa học cơ bản, vừa chú
trọng phản ánh những thành quả và những ứng dụng mới nhất của lĩnh vực
khoa học kĩ thuật đó; Các tập sách đều được viết với lời văn dễ hiểu, sinh
động, hấp dẫn, hình vẽ minh hoạ chuẩn xác, tinh tế, rất phù hợp với độc giả
trẻ tuổi và mục đích phổ cập khoa học của bộ sách.
Do chứa đựng một khối lượng kiến thức khoa học đồ sộ, thuộc hầu hết các
lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội, lại được trình bày với một văn phong
dễ hiểu, sinh động, Mười vạn câu hỏi vì sao có thể coi như là bộ sách tham
khảo bổ trợ kiến thức rất bổ ích cho giáo viên, học sinh, các bậc phụ huynh
và đông đảo bạn đọc Việt Nam.
Trong xã hội ngày nay con người sống không thể thiếu những tri thức tối
thiểu về văn hóa, khoa học; Sự hiểu biết về văn hóa, khoa học của con người
càng rộng, càng sâu thì mức sống, mức hưởng thụ văn hóa của con người
càng cao và khả năng hợp tác, chung sống, sự bình đẳng giữa con người
càng lớn, càng đa dạng, càng có hiệu quả thiết thực; Mặt khác khoa học
hiện đại đang phát triển cực nhanh, tri thức khoa học mà con người cần nắm
ngày càng nhiều, do đó, việc xuất bản tủ sách phổ biến khoa học dành cho
tuổi trẻ học đường Việt Nam và cho toàn xã hội là điều hết sức cần thiết, cấp
bách và có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa nhân văn rộng lớn; Nhận thức được điều
này, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cho xuất bản Bộ Mười vạn câu hỏi vì
sao và tin tưởng sâu sắc rằng bộ sách này sẽ là người thầy tốt, người bạn
chân chính của đông đảo thanh, thiếu niên Việt Nam, đặc biệt là học sinh,
sinh viên trên con đường học tập, xác lập nhân cách, bản lĩnh để trở thành
công dân hiện đại, mang tố chất công dân toàn cầu.
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
1. Sự sống ra đời từ bao giờ?
Trái Đất mà chúng ta đang sống là muôn hình muôn vẻ, đầy những sự
sống đang sinh sôi. Cho đến nay, các loài sinh vật đã biết trên thế giới có
khoảng hơn 1.400.000 loài, thêm vào đó có nhiều chủng loại mới vẫn chưa
được phát hiện, các nhà khoa học dự đoán, trên cả Trái Đất tồn tại khoảng 10
triệu - 30 triệu loài sinh vật. Kì diệu là những loài này có số lượng lớn, hình
dáng khác nhau nhưng lại do cùng một tổ tiên tiến hoá thành. Vậy thì tổ tiên
cổ xưa này ra đời từ bao giờ, phát triển như thế nào?
Muốn giải đáp vấn đề này, chứng cứ chủ yếu nhất chính là hoá thạch.
Ngày nay, hoá thạch cổ xưa nhất mà loài người được biết đến là loài vi
khuẩn nguyên thuỷ được phát hiện ở Australia, niên đại sinh tồn của nó cách
đây khoảng 3,5 tỉ năm, căn cứ vào suy đoán này, tổ tiên của sự sống có thể
xuất hiện cách đây 3,5 tỉ năm. Bốn tỉ năm trước đây, trên Trái Đất đã hình
thành hải dương nguyên thuỷ, lúc đó nhiệt độ của nước biển rất cao, cùng
với sự giảm dần của nhiệt độ nước đã xuất hiện những điều kiện bên ngoài
cần thiết cho sự ra đời của sự sống mới.
Tuy nhiên, tình trạng khí quyển vẫn rất tồi tệ, trong không khí hầu như
không có oxi, như vậy, sự sống nguyên thuỷ xuất hiện sớm nhất chỉ có thể là
sinh vật sống không cần oxi. Ngoài ra, do thiếu oxi, không gian trên Trái Đất
không thể hình thành tầng ozon, không có tầng ozon ngăn cản, tia tử ngoại
như đi vào nơi không người, cùng một lúc giết sạch và uy hiếp những sự
sống non nớt, vậy là sự sống nguyên thuỷ đành phải sống thu nhỏ dưới biển
sâu mười mấy mét, thậm chí mấy chục mét.
Cùng với sự phát triển chậm chạp của sinh vật, 2,6 tỉ năm trước đây, loài
tảo màu lam lục đã xuất hiện. Loài tảo này có chất diệp lục, có thể tạo ra oxi
thông qua tác dụng quang hợp. Do vậy, các sinh vật đơn bào thích hợp với
môi trường có oxi đã bước lên được vũ đài lịch sử. Phần lớn oxi lúc đó đều
kết hợp với sắt trong nước biển hình thành nên oxit sắt. Do vậy, đã hình
thành nên các mỏ sắt, ngày nay vẫn còn phổ biến trên thế giới, đó là tài
nguyên, đã đảm bảo cung cấp được 70% nhu cầu sắt cho xã hội. Có thể nói,
Trái Đất trong thời cổ đại xưa đã để lại một di sản to lớn cho loài người hiện
nay.
Một số người hiểu biết về quy luật di truyền có thể sẽ hỏi, sự tiếp diễn của
sự sống được tiến hành thông qua một thông tin mật mã di truyền ADN, vậy
thì mật mã di truyền đầu tiên của sự sống là do đâu truyền lại?
Bởi vậy rất nhiều nhà khoa học đã làm nhiều cuộc nghiên cứu lớn, trong
đó hai nhà khoa học Mĩ Oley và Miler đã làm một cuộc thực nghiệm rất nổi
tiếng nhằm giải đáp vấn đề này. Họ trộn nước và các thành phần khí quyển
như amoniac, CH4, hiđro... của thời kì Trái Đất nguyên thuỷ vào bình thuỷ
tinh chịu nóng, và dùng hình thức phóng điện để mô phỏng chớp. Sau một
tuần, trong bình thuỷ tinh đã sinh ra các phân tử hữu cơ như HCOOH,
CH3COOH, CH3CHOHCOOH..., và các thành phần axit amin cấu thành
protêin. Hiển nhiên những hiện tượng tự nhiên như chớp có thể tạo ra các
phân tử hình thành nên sự sống, nhưng từ phân tử phát triển thành sự sống
nguyên thuỷ là một quá trình rất dài, không thể làm một thực nghiệm đơn
giản mà có thể đưa ra kết quả được. Nhưng bất luận như thế nào thì cuộc
thực nghiệm đã đem đến quỹ đạo mà sự sống có thể phát triển, đồng thời đã
làm cơ sở cho việc nghiên cứu cao hơn nữa.
Sự sống phát triển đến 1,6 tỉ năm trước, các sinh vật đa tế bào đã hình
thành từ đó, sự biến đổi của sự sống được thay đổi ngày càng nhanh chóng.
Đến khoảng 700 triệu năm trước, động vật không có xương sống sinh sống ở
biển đã xuất hiện và phát triển rất nhanh chóng, quần thể sinh vật nổi tiếng ở
Australia chính là sản phẩm của thời kì này.
Khoảng 570 triệu năm trước, sinh vật phát triển thành những kết cấu tổ
chức cứng, nó khác so với sinh vật tổ chức mềm là chúng rất dễ biến thành
hoá thạch. Bởi vậy, dấu vết hoá thạch ở các nơi trên thế giới từ thời kì này
bắt đầu gia tăng nhanh chóng, địa chất học gọi thời kì này là kỉ tiền Cambri.
Kỉ Cambri đến đã đánh dấu sự đa dạng hoá nhanh chóng của sinh vật, do
vậy, thời kì này cũng được gọi là thời kì bùng nổ của sự sống. Ngày nay, các
sinh vật đại biểu nhiều lớp trên thế giới mà chúng ta có thể liệt kê ra đều có
thể tìm được trong quần thể hoá thạch của thời kì đó.
2. Tại sao sinh vật có thể bị tuyệt chủng?
Chim Đô Đô và chim bồ câu Bắc Mĩ là những sinh vật đã từng tồn tại trên
Trái Đất với số lượng lớn và sớm đã trở thành di vật của lịch sử. Những loại
động vật quý hiếm khác như hổ Đông Bắc, voi Châu Phi, hắc tinh tinh... hiện
nay cũng đã đến thời điểm mấu chốt của sự tồn vong. Các nhà khoa học dự
đoán, thời đại mà chúng ta đang sống chính là thời đại tai hoạ của sinh vật,
tốc độ tuyệt chủng của nó tương đương gấp 4000 lần của thời đại khủng
long. Vậy thì tại sao sinh vật có thể bị tuyệt chủng khi mà rất khó biến hoá
thành công? Tại sao hiện nay tốc độ tuyệt chủng lại nhanh như vậy?
Đầu tiên, chúng ta hãy nhìn xem chim Đô Đô bị tuyệt chủng như thế nào?
Chim Đô Đô thân dài 1 m, có thể nặng tới 20 kg, đã từng sống trên đảo
Mađagasca - Châu Phi. Tuy được gọi là chim nhưng nó lại giống gà, vịt nuôi
ở nhà mà hiện nay chúng ta thường thấy. Chúng không có khả năng bay
lượn. Khi dấu chân của loài người đặt lên mảnh đất màu mỡ này thì thịt của
chim Đô Đô đã nhanh chóng xuất hiện trên bàn ăn. Vậy là trong thời gian
không đầy 200 năm, chim Đô Đô đã bị loài người tiêu diệt sạch.
Chim bồ câu Bắc Mĩ cũng có số phận tương tự như vậy, chỉ khác là tốc độ
tuyệt chủng nhanh hơn. Năm đó, giữa Mĩ và Mêhicô có khoảng mấy tỉ con
chim bồ câu Bắc Mĩ tự do bay lượn, số lượng nhiều đến nỗi khiến người ta
cảm thấy khiếp sợ. Ngay sau đó, những tiếng súng vang dội lên không trung
không ngớt và đến năm 1914 thì loài động vật nhỏ bé này đã bị đi vào con
đường tuyệt chủng.
Từ hai ví dụ trên, chúng ta có thể thấy rằng, hoạt động của loài người là
nguyên nhân chủ yếu làm cho một số động vật bị tuyệt chủng. Cùng với sự
phát triển không ngừng của xã hội loài người khi con người bắt đầu sử dụng
các loại công cụ hiện đại để chặt cây, phá rừng thì những cánh rừng hoang
dã xưa kia dần dần bị những toà nhà cao tầng chiếm lĩnh, phá huỷ nơi sinh
sống vui chơi của rất nhiều loài động vật.
Loài người phát triển đã trực tiếp gây ra các nguồn ô nhiễm cùng với
không gian sinh sống của chính mình. Việc xả nước bẩn và nước thải đã làm
cho sự sinh sôi của động vật bậc thấp bị ảnh hưởng nghiêm trọng và cũng
gây khó khăn đến nước uống cho động vật bậc cao. Ngay sau đó, chúng ta
nhìn thấy một số khu vực có trình độ công nghiệp hoá tương đối cao, không
chỉ là động vật hoang dã, có khi cả những vật nuôi trong nhà cũng sẽ biến
thành dị dạng. Nếu tiếp tục như vậy, sự tuyệt chủng của các loài động vật
này chỉ còn là vấn đề thời gian.
Loài người còn đưa nhiều động vật lên bàn ăn, ví dụ như ếch. Từ sau khi
trở thành món hàng thường xuyên có mặt ở chợ thì việc quản lí đồng ruộng
ngày càng ỷ lại vào thuốc trừ sâu. Sự ô nhiễm của thuốc trừ sâu ngược lại đã
phá hoại môi trường sinh thái của ếch, sự tuần hoàn ác nghiệt này chắc chắn
sẽ đưa loài ếch đi vào con đường tuyệt chủng. Thực ra, không chỉ có loài ếch
mà cả loài bò sát, loài chim, loài động vật có vú, thậm chí cả côn trùng cũng
đều trở thành đối tượng truy đuổi của các thực khách. Sự xuất hiện của một
loài sinh vật phải trải qua sự biến hoá mấy vạn năm, mấy chục vạn năm, vậy
mà muốn tiêu diệt nó có lẽ chỉ cần thời gian mấy năm.
Đương nhiên, sự tuyệt chủng của một số loài sinh vật là một sự tất nhiên
trong lịch sử tiến hoá sinh vật. Ví dụ như quần thể sinh vật cách đây 600
triệu năm, do sự phát triển của động vật đã xuất hiện quần thể mô cứng như
loài giáp xác...; những sinh vật chỉ có kết cấu mô nhuyễn thể không chống
lại được sự tấn công đành phải trở thành miếng mồi ngon cho các động vật
khác; có thể nói đây là một loài sinh vật kế thừa của đời trước.
3. Chất xúc tác trong cơ thể sinh vật có tác
dụng gì?
Bất kể động vật, thực vật hay loài người, trong cơ thể đều tồn tại các loại
chất xúc tác, hoạt động sống của chúng đều không thể tách rời sự giúp đỡ
của chất xúc tác.
Chất xúc tác quan trọng như vậy, trên thực tế là một loại protêin1 có tác
dụng xúc tác trong cơ thể sinh vật. Dưới tác dụng của chất xúc tác mới có thể
có hoạt động sự sống như tiêu hoá, hô hấp, vận động, sinh trưởng, phát dục,
sinh sôi... mới có thể xuất hiện sự biến đổi hoá học như sự trao đổi vật chất...
Chất xúc tác có tác dụng xúc tác rất mạnh, có thể nâng tốc độ phản ứng
sinh hoá trong cơ thể sinh vật lên 100 triệu ~ 10 tỉ lần. Ví dụ loài người hay
một số động vật bậc cao thì trong thức ăn có một lượng tinh bột lớn, những
tinh bột này được đưa vào trong cơ thể, nếu như không có chất xúc tác tinh
bột tham gia vào xúc tác thì không thể thuỷ phân thành monosacarit mà cơ
thể sinh vật có thể sử dụng được.
Có thể nói, động vật đưa thức ăn vào đường ruột tiêu hoá phân giải, sau
đó, vật chất phân giải ra sau khi được hấp thu, trong các tổ chức tế bào tiến
hành sự biến đổi phức tạp và biểu hiện ra thành các hiện tượng của sự sống
thì đều được tiến hành dưới tác dụng của chất xúc tác. Thực ra, không chỉ là
động vật và loài người mà hạt giống của thực vật qua nảy mầm, khai hoa, kết
quả và tiến hành tác dụng quang hợp cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của
chất xúc tác được.
Chất xúc tác phát huy được tác dụng quan trọng trong cơ thể sinh vật và
cũng đặc biệt thích hợp "sinh tồn" trong cơ thể sinh vật. Đây là do chất xúc
tác đặc biệt mẫn cảm đối với nhiệt độ cao, mà phản ứng sinh hoá trong cơ
thể sinh vật đều là được tiến hành dưới nhiệt độ thường, áp suất thường, làm
cho chất xúc tác thường ở trạng thái hoạt tính. Nếu như chất xúc tác bị đốt
nóng lên thì chúng sẽ mất đi hoạt tính.
4. Có sinh vật nào không bao giờ bị chết
không?
Rất nhiều sinh vật, kể cả con người đều không tránh khỏi cái chết. Đây là
một hiện tượng tự nhiên mà tất cả mọi người đều phải chấp nhận. Nhưng nếu
chúng ta nghiên cứu tỉ mỉ thì có thể phát hiện, đối với vi khuẩn và đại đa số
động vật nguyên sinh thì chết không phải là một kết quả tất nhiên, điều này
là như thế nào? Tại sao sự sống lại phải chết?
Chúng ta đều biết, bản chất của sự sống là gen di truyền. Do tác dụng của
các nhân tố bên ngoài như tia tử ngoại, ô nhiễm v.v. và sự thay đổi bên trong
của các tế bào, kết cấu gen sẽ không thể tránh được phát sinh tổn thương
nhất định. Thông thường, tổn thương này có thể bị loại bỏ thông qua chức
năng phục hồi của chính tế bào, nhưng nếu như sự tổn thương đã đạt đến
mức độ nhất định thì sự phục hồi là rất khó khăn hoặc không thể phục hồi
được hoàn toàn, dẫn đến sự lão hoá của các cơ quan, của các tế bào, cuối
cùng dẫn đến cái chết của sinh vật.
Chết là một kết cục không thể tránh được. Vậy thì tại sao còn có sinh vật
không bao giờ chết? Nguyên nhân của cái gọi là những vi khuẩn hay một số
động vật nguyên sinh không chết là vì chúng có một khả năng tự phục chế
rất mạnh. Lấy trùng biến hình amíp làm ví dụ. Sinh vật loại nhỏ này trong
thời gian rất ngắn, thông qua phân tách có thể tự phục chế với số lượng lớn.
Như vậy, cho dù một vài cá thể có thể lão hoá, có thể chết, nhưng cá thể
khác vẫn đang phục chế, chỉ cần điều kiện dinh dưỡng cho phép thì chúng
vẫn có thể phục chế không ngừng.
Bởi vậy, người và động vật đa tế bào khác sở dĩ có thể chết là do trong tế
bào có cơ chế ngăn chặn sự phân tách không hạn chế, giống như lắp một bộ
phanh xe tốt. Nếu không phải như vậy thì loài người chúng ta không thể
tưởng tượng nổi sẽ đông đến như thế nào. Nếu như bộ phanh xe nào đó mất
tác dụng, tế bào ở đó cứ liên tục phân tách, sinh sôi không hạn chế, cuối
cùng sẽ hao mòn hết toàn bộ chất dinh dưỡng trong cơ thể sinh vật, tế bào đó
sẽ trở thành tế bào ung thư.
5. Tại sao sinh vật cũng có thể khai thác
quặng?
Nói đến hầm mỏ chúng ta nghĩ ngay sẽ một cảnh tượng máy móc chạy ầm
ầm trên công trường, những chiếc cần cẩu to lớn chuyển một số lượng lớn
quặng lên những chiếc xe tải...
Song phương thức khai thác mỏ kiểu này chỉ thích hợp với khai thác
quặng giàu, còn đối với một số quặng nghèo thì chi phí máy móc khai thác
quặng và tinh luyện kim loại phải trả rất cao, mất đi giá trị kinh tế của khai
thác. Trong trường hợp như vậy, các nhà khoa học liền lợi dụng sinh vật để
giải quyết vấn đề khó này.
Ví dụ như có một số quặng đồng có hàm lượng đồng rất thấp, không có
giá trị chiết xuất, nhưng cũng không thể để lãng phí. Lúc này vi khuẩn có thể
phát huy được tác dụng đặc biệt của mình. Người ta để quặng chất đống
trong nước ao, để một số vi khuẩn đặc biệt sinh sôi nhiều trong nước ao,
chúng biến sunfuarơ (đioxit lưu huỳnh) thành axit sunfuric, mà dung dịch
axit sunfuric có thể hoà tan đồng trong quặng đồng thành dung dịch sunfat
đồng. Như vậy, việc chiết xuất đồng từ trong sunfat đồng đơn giản hơn
nhiều.
Sinh vật khai thác quặng có khi còn cần sự tham gia đồng thời của động
vật và thực vật.
Trong bảng tuần hoàn các nguyên tố kim loại có một thành viên gọi là
tanta, nó thuộc vào kim loại hiếm, chiết xuất khó, do vậy giá cả rất đắt.
Trước đây, con người chỉ có thể chiết xuất được số lượng ít tanta từ trong
phòng thí nghiệm, được coi là vật liệu nghiên cứu quan trọng. Sau đó phát
hiện ra có một loại thực vật gọi là cỏ tử linh lăng có thể hấp thu được tanta,
đem lại hi vọng mới cho việc sản xuất số lượng tương đối lớn tanta.
Nhưng trong sản xuất thực tế, con người đã gặp phải rắc rối, bởi vì cỏ tử
linh lăng là một loại cỏ nuôi súc vật rất tốt, nếu như đem toàn bộ chúng đốt
thành than, lại từ trong than chiết xuất tanta thì sẽ lãng phí mất một số lượng
lớn cỏ nuôi súc vật. Để giải quyết mâu thuẫn này, các nhà khoa học lại tiến
hành nghiên cứu sâu hơn, kết quả phát hiện ra rằng, trong phấn hoa của cỏ tử
linh lăng có lượng tanta rất cao. Vậy là người ta đã tìm ra được một biện
pháp tốt đạt được cả hai mục đích. Ở vùng cỏ tử linh lăng nuôi súc vật,
người nuôi thả nhiều ong mật, lợi dụng ong mật làm "tay truyền bá thứ hai"
chiết xuất tanta. Như vậy lấy cỏ tử linh lăng hấp thu tanta từ trong đất, lấy
ong mật thu thập phấn hoa và gây mật, cuối cùng con người chiết xuất ra
tanta quý hiếm từ trong mật ong. Kết quả là cỏ tử linh lăng không cần phải
thiêu huỷ, mật ong qua chiết xuất vẫn rất thơm, ngọt và còn là thực phẩm
giàu chất dinh dưỡng.
Phương pháp mới để sinh vật khai thác quặng càng ngày càng được sự
hoan nghênh, do nó có nhiều ưu điểm. Phương thức khai thác quặng này
không cần nhiều thiết bị phức tạp, có thể kết hợp việc khai thác quặng với
tinh luyện thành một, không chỉ thao tác thuận tiện và giá thành thấp, còn
đặc biệt thích hợp với quặng nghèo, quặng phế liệu, quặng còn lại và xử lí
quặng cặn, đã có tác dụng thần kì biến quặng phế thải thành quặng quý hiếm.
6. Động vật khác với thực vật ở điểm nào?
Động vật và thực vật đều thuộc về sinh vật nhưng chúng lại là hai loại
sinh vật lớn khác nhau hoàn toàn, hầu như mọi người đều có thể phân biệt
được chúng.
Nhưng có một số loại vừa giống động vật lại vừa giống thực vật, ví dụ
như san hô mà mọi người đều rất quen thuộc, cách đây hơn 100 năm về
trước, do nó nhìn giống như có rễ cây, thân cây, lá cây và cành cây nên dễ
nhận nhầm nó là một loại thực vật.
Vậy thì rốt cuộc động vật và thực vật có những sự khác biệt chủ yếu nào?
Các nhà khoa học quy nạp thành bốn phương diện.
Hầu như tất cả thực vật đều nảy mầm sinh trưởng, khai hoa kết quả cùng
một chỗ, cũng có thể nói là nếu không động đến gốc đất thì sống được cả
đời. Đương nhiên, bên trong này cũng có chút ngoại lệ, như thực vật thuỷ
sinh loại nhỏ sống trôi nổi trên nước. Trái ngược lại với thực vật, đại đa số
động vật để tìm thức ăn, tránh địch hay nguyên nhân khác thường chạy đi
chạy lại, nằm ở trạng thái vận động.
Thực vật từ nhỏ đến lớn, các khí quan vẫn phát sinh thay đổi tăng giảm
không giống nhau, ví dụ như thời kì nhỏ chỉ có rễ cây, thân cây, lá cây, sau
khi trưởng thành mọc ra hoa, sau khi hoa héo tàn lại kết thành quả. Mà đại
đa số động vật (trừ động vật bậc thấp) bất kể là bé hay lớn thì các khí quan
như ngũ quan, tứ chi không tăng không giảm, chỉ có thể tích là to nhỏ không
giống nhau. Ví dụ sư tử con hay hổ con vừa được sinh ra đã có đầy đủ các
khí quan giống như cha mẹ của chúng.
Về đặc tính thói quen sinh sống của hai loài thì thực vật có đặc điểm rất
quan trọng, là ngoài một số ít thực vật kí sinh và ăn ruỗng ra, chúng đều có
thể tiến hành tác dụng quang hợp, có thể tự tạo ra "lương thực" nuôi sống
chính mình. Động vật lại không thể làm được điều này, chúng chỉ có thể dựa
vào thức ăn thực vật hoặc thức ăn động vật khác để nuôi sống bản thân.
Sự khác biệt giữa thực vật và động vật còn có một tiêu chuẩn rất rõ rệt.
Quan sát tế bào của chúng dưới kính hiển vi thì sẽ phát hiện tế bào của thực
vật đều có một tầng vách tế bào vừa dày vừa cứng, mà tế bào động vật thì
chỉ có màng tế bào lại không có vách tế bào.
7. Vi sinh vật có những đặc điểm gì?
Trong vương quốc của sinh vật có một loại sinh vật đơn bào đặc biệt nhỏ,
do vậy các nhà khoa học gọi chúng là vi sinh vật.
Vi sinh vật ngoài cá thể nhỏ ra, còn có điểm nào khác nữa? Thứ nhất, vi
sinh vật có khả năng sinh sôi đáng kinh ngạc, chỉ cần điều kiện thích hợp,
trong thời gian 20 phút, thậm chí ngắn hơn, nó có thể sinh ra một thế hệ mới.
Nếu như không có sự hạn chế của điều kiện tự nhiên, một vi sinh vật chỉ cần
sinh sôi trong thời gian 2 ngày, con cháu đời sau tập hợp lại thì trên Trái Đất
này có nhiều đến mức không thể tưởng tượng được, sức sinh sôi quá lớn như
vậy là sự lạc hậu của các vi sinh vật.
Khả năng thích ứng sinh tồn của các vi sinh vật cũng vượt xa các sinh vật
khác. Ví dụ, có một loại vi khuẩn có thể tiến hành tác dụng quang hợp dưới
ánh sáng Mặt Trời, có thể sống không dựa vào khí oxi, nhưng một khi để
chúng trong môi trường tối thì chúng có thể lập tức thay đổi lợi dụng khí oxi
để sống. Nếu như đặt chúng ra nơi có ánh sáng thì chúng lại có thể lập tức
tiến hành tác dụng quang hợp, sống không cần khí oxi.
Các nhà khoa học khi nghiên cứu khả năng thích ứng của các vi sinh vật
đã phát hiện một khi chất dinh dưỡng mà chúng hấp thu có thay đổi thì nó sẽ
phát sinh biến hóa tương ứng trong 1/1000 giây.
Nếu như điều kiện môi trường thay đổi xấu đi nhanh chóng thì có một số
vi sinh vật sẽ đi vào trạng thái ngủ đông để chống lại môi trường tồi tệ bên
ngoài, chờ điều kiện môi trường được cải thiện thì nó sẽ tỉnh lại. Ví dụ như
bào tử vi khuẩn nằm ở trạng thái ngủ đông, không sợ nhiệt độ cao, áp suất
cao, khô và đói, có thể nói là bào tử hầu như có thể sinh tồn dưới bất kì điều
kiện tồi tệ nào.
Vi sinh vật còn có một đặc trưng kì diệu là dễ thay đổi, cũng có thể nói là
chúng dễ thay đổi theo sự thay đổi của tự nhiên, làm cho chúng có thể an cư
lạc nghiệp trong môi trường mà các sinh vật khác không thể tồn tại được. Ví
dụ, có một số vi sinh vật có thể sống trong nước nón
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mười vạn câu hỏi vì sao là bộ sách phổ cập khoa học dành cho lứa tuổi
thanh, thiếu niên. Bộ sách này dùng hình thức trả lời hàng loạt câu hỏi "Thế
nào?", "Tại sao?" để trình bày một cách đơn giản, dễ hiểu một khối lượng
lớn các khái niệm, các phạm trù khoa học, các sự vật, hiện tượng, quá trình
trong tự nhiên, xã hội và con người, giúp cho người đọc hiểu được các lí lẽ
khoa học tiềm ẩn trong các hiện tượng, quá trình quen thuộc trong đời sống
thường nhật, tưởng như ai cũng đã biết nhưng không phải người nào cũng
giải thích được.
Bộ sách được dịch từ nguyên bản tiếng Trung Quốc do Nhà xuất bản
Thiếu niên Nhi đồng, Trung Quốc xuất bản. Do tính thiết thực, tính gần gũi
về nội dung và tính độc đáo về hình thức trình bày mà ngay khi vừa mới xuất
bản ở Trung Quốc, bộ sách đã được bạn đọc tiếp nhận nồng nhiệt, nhất là
thanh thiếu niên, tuổi trẻ học đường. Do tác dụng to lớn của bộ sách trong
việc phổ cập khoa học trong giới trẻ và trong xã hội, năm 1998 Bộ sách
Mười vạn câu hỏi vì sao đã được Nhà nước Trung Quốc trao "Giải thưởng
Tiến bộ khoa học kĩ thuật Quốc gia", một giải thưởng cao nhất đối với thể
loại sách phổ cập khoa học của Trung Quốc và được vinh dự chọn là một
trong "50 cuốn sách làm cảm động Nước Cộng hoà" kể từ ngày thành lập
nước.
Bộ sách Mười vạn câu hỏi vì sao có 12 tập, trong đó 11 tập trình bày các
khái niệm và các hiện tượng thuộc 11 lĩnh vực hay bộ môn tương ứng: Toán
học, Vật lí, Hoá học, Tin học, Khoa học môi trường, Khoa học công trình,
Trái Đất, Cơ thể người, Khoa học vũ trụ, Động vật, Thực vật; ở mỗi lĩnh
vực các tác giả vừa chú ý cung cấp các tri thức khoa học cơ bản, vừa chú
trọng phản ánh những thành quả và những ứng dụng mới nhất của lĩnh vực
khoa học kĩ thuật đó; Các tập sách đều được viết với lời văn dễ hiểu, sinh
động, hấp dẫn, hình vẽ minh hoạ chuẩn xác, tinh tế, rất phù hợp với độc giả
trẻ tuổi và mục đích phổ cập khoa học của bộ sách.
Do chứa đựng một khối lượng kiến thức khoa học đồ sộ, thuộc hầu hết các
lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội, lại được trình bày với một văn phong
dễ hiểu, sinh động, Mười vạn câu hỏi vì sao có thể coi như là bộ sách tham
khảo bổ trợ kiến thức rất bổ ích cho giáo viên, học sinh, các bậc phụ huynh
và đông đảo bạn đọc Việt Nam.
Trong xã hội ngày nay con người sống không thể thiếu những tri thức tối
thiểu về văn hóa, khoa học; Sự hiểu biết về văn hóa, khoa học của con người
càng rộng, càng sâu thì mức sống, mức hưởng thụ văn hóa của con người
càng cao và khả năng hợp tác, chung sống, sự bình đẳng giữa con người
càng lớn, càng đa dạng, càng có hiệu quả thiết thực; Mặt khác khoa học
hiện đại đang phát triển cực nhanh, tri thức khoa học mà con người cần nắm
ngày càng nhiều, do đó, việc xuất bản tủ sách phổ biến khoa học dành cho
tuổi trẻ học đường Việt Nam và cho toàn xã hội là điều hết sức cần thiết, cấp
bách và có ý nghĩa xã hội, ý nghĩa nhân văn rộng lớn; Nhận thức được điều
này, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cho xuất bản Bộ Mười vạn câu hỏi vì
sao và tin tưởng sâu sắc rằng bộ sách này sẽ là người thầy tốt, người bạn
chân chính của đông đảo thanh, thiếu niên Việt Nam, đặc biệt là học sinh,
sinh viên trên con đường học tập, xác lập nhân cách, bản lĩnh để trở thành
công dân hiện đại, mang tố chất công dân toàn cầu.
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
1. Sự sống ra đời từ bao giờ?
Trái Đất mà chúng ta đang sống là muôn hình muôn vẻ, đầy những sự
sống đang sinh sôi. Cho đến nay, các loài sinh vật đã biết trên thế giới có
khoảng hơn 1.400.000 loài, thêm vào đó có nhiều chủng loại mới vẫn chưa
được phát hiện, các nhà khoa học dự đoán, trên cả Trái Đất tồn tại khoảng 10
triệu - 30 triệu loài sinh vật. Kì diệu là những loài này có số lượng lớn, hình
dáng khác nhau nhưng lại do cùng một tổ tiên tiến hoá thành. Vậy thì tổ tiên
cổ xưa này ra đời từ bao giờ, phát triển như thế nào?
Muốn giải đáp vấn đề này, chứng cứ chủ yếu nhất chính là hoá thạch.
Ngày nay, hoá thạch cổ xưa nhất mà loài người được biết đến là loài vi
khuẩn nguyên thuỷ được phát hiện ở Australia, niên đại sinh tồn của nó cách
đây khoảng 3,5 tỉ năm, căn cứ vào suy đoán này, tổ tiên của sự sống có thể
xuất hiện cách đây 3,5 tỉ năm. Bốn tỉ năm trước đây, trên Trái Đất đã hình
thành hải dương nguyên thuỷ, lúc đó nhiệt độ của nước biển rất cao, cùng
với sự giảm dần của nhiệt độ nước đã xuất hiện những điều kiện bên ngoài
cần thiết cho sự ra đời của sự sống mới.
Tuy nhiên, tình trạng khí quyển vẫn rất tồi tệ, trong không khí hầu như
không có oxi, như vậy, sự sống nguyên thuỷ xuất hiện sớm nhất chỉ có thể là
sinh vật sống không cần oxi. Ngoài ra, do thiếu oxi, không gian trên Trái Đất
không thể hình thành tầng ozon, không có tầng ozon ngăn cản, tia tử ngoại
như đi vào nơi không người, cùng một lúc giết sạch và uy hiếp những sự
sống non nớt, vậy là sự sống nguyên thuỷ đành phải sống thu nhỏ dưới biển
sâu mười mấy mét, thậm chí mấy chục mét.
Cùng với sự phát triển chậm chạp của sinh vật, 2,6 tỉ năm trước đây, loài
tảo màu lam lục đã xuất hiện. Loài tảo này có chất diệp lục, có thể tạo ra oxi
thông qua tác dụng quang hợp. Do vậy, các sinh vật đơn bào thích hợp với
môi trường có oxi đã bước lên được vũ đài lịch sử. Phần lớn oxi lúc đó đều
kết hợp với sắt trong nước biển hình thành nên oxit sắt. Do vậy, đã hình
thành nên các mỏ sắt, ngày nay vẫn còn phổ biến trên thế giới, đó là tài
nguyên, đã đảm bảo cung cấp được 70% nhu cầu sắt cho xã hội. Có thể nói,
Trái Đất trong thời cổ đại xưa đã để lại một di sản to lớn cho loài người hiện
nay.
Một số người hiểu biết về quy luật di truyền có thể sẽ hỏi, sự tiếp diễn của
sự sống được tiến hành thông qua một thông tin mật mã di truyền ADN, vậy
thì mật mã di truyền đầu tiên của sự sống là do đâu truyền lại?
Bởi vậy rất nhiều nhà khoa học đã làm nhiều cuộc nghiên cứu lớn, trong
đó hai nhà khoa học Mĩ Oley và Miler đã làm một cuộc thực nghiệm rất nổi
tiếng nhằm giải đáp vấn đề này. Họ trộn nước và các thành phần khí quyển
như amoniac, CH4, hiđro... của thời kì Trái Đất nguyên thuỷ vào bình thuỷ
tinh chịu nóng, và dùng hình thức phóng điện để mô phỏng chớp. Sau một
tuần, trong bình thuỷ tinh đã sinh ra các phân tử hữu cơ như HCOOH,
CH3COOH, CH3CHOHCOOH..., và các thành phần axit amin cấu thành
protêin. Hiển nhiên những hiện tượng tự nhiên như chớp có thể tạo ra các
phân tử hình thành nên sự sống, nhưng từ phân tử phát triển thành sự sống
nguyên thuỷ là một quá trình rất dài, không thể làm một thực nghiệm đơn
giản mà có thể đưa ra kết quả được. Nhưng bất luận như thế nào thì cuộc
thực nghiệm đã đem đến quỹ đạo mà sự sống có thể phát triển, đồng thời đã
làm cơ sở cho việc nghiên cứu cao hơn nữa.
Sự sống phát triển đến 1,6 tỉ năm trước, các sinh vật đa tế bào đã hình
thành từ đó, sự biến đổi của sự sống được thay đổi ngày càng nhanh chóng.
Đến khoảng 700 triệu năm trước, động vật không có xương sống sinh sống ở
biển đã xuất hiện và phát triển rất nhanh chóng, quần thể sinh vật nổi tiếng ở
Australia chính là sản phẩm của thời kì này.
Khoảng 570 triệu năm trước, sinh vật phát triển thành những kết cấu tổ
chức cứng, nó khác so với sinh vật tổ chức mềm là chúng rất dễ biến thành
hoá thạch. Bởi vậy, dấu vết hoá thạch ở các nơi trên thế giới từ thời kì này
bắt đầu gia tăng nhanh chóng, địa chất học gọi thời kì này là kỉ tiền Cambri.
Kỉ Cambri đến đã đánh dấu sự đa dạng hoá nhanh chóng của sinh vật, do
vậy, thời kì này cũng được gọi là thời kì bùng nổ của sự sống. Ngày nay, các
sinh vật đại biểu nhiều lớp trên thế giới mà chúng ta có thể liệt kê ra đều có
thể tìm được trong quần thể hoá thạch của thời kì đó.
2. Tại sao sinh vật có thể bị tuyệt chủng?
Chim Đô Đô và chim bồ câu Bắc Mĩ là những sinh vật đã từng tồn tại trên
Trái Đất với số lượng lớn và sớm đã trở thành di vật của lịch sử. Những loại
động vật quý hiếm khác như hổ Đông Bắc, voi Châu Phi, hắc tinh tinh... hiện
nay cũng đã đến thời điểm mấu chốt của sự tồn vong. Các nhà khoa học dự
đoán, thời đại mà chúng ta đang sống chính là thời đại tai hoạ của sinh vật,
tốc độ tuyệt chủng của nó tương đương gấp 4000 lần của thời đại khủng
long. Vậy thì tại sao sinh vật có thể bị tuyệt chủng khi mà rất khó biến hoá
thành công? Tại sao hiện nay tốc độ tuyệt chủng lại nhanh như vậy?
Đầu tiên, chúng ta hãy nhìn xem chim Đô Đô bị tuyệt chủng như thế nào?
Chim Đô Đô thân dài 1 m, có thể nặng tới 20 kg, đã từng sống trên đảo
Mađagasca - Châu Phi. Tuy được gọi là chim nhưng nó lại giống gà, vịt nuôi
ở nhà mà hiện nay chúng ta thường thấy. Chúng không có khả năng bay
lượn. Khi dấu chân của loài người đặt lên mảnh đất màu mỡ này thì thịt của
chim Đô Đô đã nhanh chóng xuất hiện trên bàn ăn. Vậy là trong thời gian
không đầy 200 năm, chim Đô Đô đã bị loài người tiêu diệt sạch.
Chim bồ câu Bắc Mĩ cũng có số phận tương tự như vậy, chỉ khác là tốc độ
tuyệt chủng nhanh hơn. Năm đó, giữa Mĩ và Mêhicô có khoảng mấy tỉ con
chim bồ câu Bắc Mĩ tự do bay lượn, số lượng nhiều đến nỗi khiến người ta
cảm thấy khiếp sợ. Ngay sau đó, những tiếng súng vang dội lên không trung
không ngớt và đến năm 1914 thì loài động vật nhỏ bé này đã bị đi vào con
đường tuyệt chủng.
Từ hai ví dụ trên, chúng ta có thể thấy rằng, hoạt động của loài người là
nguyên nhân chủ yếu làm cho một số động vật bị tuyệt chủng. Cùng với sự
phát triển không ngừng của xã hội loài người khi con người bắt đầu sử dụng
các loại công cụ hiện đại để chặt cây, phá rừng thì những cánh rừng hoang
dã xưa kia dần dần bị những toà nhà cao tầng chiếm lĩnh, phá huỷ nơi sinh
sống vui chơi của rất nhiều loài động vật.
Loài người phát triển đã trực tiếp gây ra các nguồn ô nhiễm cùng với
không gian sinh sống của chính mình. Việc xả nước bẩn và nước thải đã làm
cho sự sinh sôi của động vật bậc thấp bị ảnh hưởng nghiêm trọng và cũng
gây khó khăn đến nước uống cho động vật bậc cao. Ngay sau đó, chúng ta
nhìn thấy một số khu vực có trình độ công nghiệp hoá tương đối cao, không
chỉ là động vật hoang dã, có khi cả những vật nuôi trong nhà cũng sẽ biến
thành dị dạng. Nếu tiếp tục như vậy, sự tuyệt chủng của các loài động vật
này chỉ còn là vấn đề thời gian.
Loài người còn đưa nhiều động vật lên bàn ăn, ví dụ như ếch. Từ sau khi
trở thành món hàng thường xuyên có mặt ở chợ thì việc quản lí đồng ruộng
ngày càng ỷ lại vào thuốc trừ sâu. Sự ô nhiễm của thuốc trừ sâu ngược lại đã
phá hoại môi trường sinh thái của ếch, sự tuần hoàn ác nghiệt này chắc chắn
sẽ đưa loài ếch đi vào con đường tuyệt chủng. Thực ra, không chỉ có loài ếch
mà cả loài bò sát, loài chim, loài động vật có vú, thậm chí cả côn trùng cũng
đều trở thành đối tượng truy đuổi của các thực khách. Sự xuất hiện của một
loài sinh vật phải trải qua sự biến hoá mấy vạn năm, mấy chục vạn năm, vậy
mà muốn tiêu diệt nó có lẽ chỉ cần thời gian mấy năm.
Đương nhiên, sự tuyệt chủng của một số loài sinh vật là một sự tất nhiên
trong lịch sử tiến hoá sinh vật. Ví dụ như quần thể sinh vật cách đây 600
triệu năm, do sự phát triển của động vật đã xuất hiện quần thể mô cứng như
loài giáp xác...; những sinh vật chỉ có kết cấu mô nhuyễn thể không chống
lại được sự tấn công đành phải trở thành miếng mồi ngon cho các động vật
khác; có thể nói đây là một loài sinh vật kế thừa của đời trước.
3. Chất xúc tác trong cơ thể sinh vật có tác
dụng gì?
Bất kể động vật, thực vật hay loài người, trong cơ thể đều tồn tại các loại
chất xúc tác, hoạt động sống của chúng đều không thể tách rời sự giúp đỡ
của chất xúc tác.
Chất xúc tác quan trọng như vậy, trên thực tế là một loại protêin1 có tác
dụng xúc tác trong cơ thể sinh vật. Dưới tác dụng của chất xúc tác mới có thể
có hoạt động sự sống như tiêu hoá, hô hấp, vận động, sinh trưởng, phát dục,
sinh sôi... mới có thể xuất hiện sự biến đổi hoá học như sự trao đổi vật chất...
Chất xúc tác có tác dụng xúc tác rất mạnh, có thể nâng tốc độ phản ứng
sinh hoá trong cơ thể sinh vật lên 100 triệu ~ 10 tỉ lần. Ví dụ loài người hay
một số động vật bậc cao thì trong thức ăn có một lượng tinh bột lớn, những
tinh bột này được đưa vào trong cơ thể, nếu như không có chất xúc tác tinh
bột tham gia vào xúc tác thì không thể thuỷ phân thành monosacarit mà cơ
thể sinh vật có thể sử dụng được.
Có thể nói, động vật đưa thức ăn vào đường ruột tiêu hoá phân giải, sau
đó, vật chất phân giải ra sau khi được hấp thu, trong các tổ chức tế bào tiến
hành sự biến đổi phức tạp và biểu hiện ra thành các hiện tượng của sự sống
thì đều được tiến hành dưới tác dụng của chất xúc tác. Thực ra, không chỉ là
động vật và loài người mà hạt giống của thực vật qua nảy mầm, khai hoa, kết
quả và tiến hành tác dụng quang hợp cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của
chất xúc tác được.
Chất xúc tác phát huy được tác dụng quan trọng trong cơ thể sinh vật và
cũng đặc biệt thích hợp "sinh tồn" trong cơ thể sinh vật. Đây là do chất xúc
tác đặc biệt mẫn cảm đối với nhiệt độ cao, mà phản ứng sinh hoá trong cơ
thể sinh vật đều là được tiến hành dưới nhiệt độ thường, áp suất thường, làm
cho chất xúc tác thường ở trạng thái hoạt tính. Nếu như chất xúc tác bị đốt
nóng lên thì chúng sẽ mất đi hoạt tính.
4. Có sinh vật nào không bao giờ bị chết
không?
Rất nhiều sinh vật, kể cả con người đều không tránh khỏi cái chết. Đây là
một hiện tượng tự nhiên mà tất cả mọi người đều phải chấp nhận. Nhưng nếu
chúng ta nghiên cứu tỉ mỉ thì có thể phát hiện, đối với vi khuẩn và đại đa số
động vật nguyên sinh thì chết không phải là một kết quả tất nhiên, điều này
là như thế nào? Tại sao sự sống lại phải chết?
Chúng ta đều biết, bản chất của sự sống là gen di truyền. Do tác dụng của
các nhân tố bên ngoài như tia tử ngoại, ô nhiễm v.v. và sự thay đổi bên trong
của các tế bào, kết cấu gen sẽ không thể tránh được phát sinh tổn thương
nhất định. Thông thường, tổn thương này có thể bị loại bỏ thông qua chức
năng phục hồi của chính tế bào, nhưng nếu như sự tổn thương đã đạt đến
mức độ nhất định thì sự phục hồi là rất khó khăn hoặc không thể phục hồi
được hoàn toàn, dẫn đến sự lão hoá của các cơ quan, của các tế bào, cuối
cùng dẫn đến cái chết của sinh vật.
Chết là một kết cục không thể tránh được. Vậy thì tại sao còn có sinh vật
không bao giờ chết? Nguyên nhân của cái gọi là những vi khuẩn hay một số
động vật nguyên sinh không chết là vì chúng có một khả năng tự phục chế
rất mạnh. Lấy trùng biến hình amíp làm ví dụ. Sinh vật loại nhỏ này trong
thời gian rất ngắn, thông qua phân tách có thể tự phục chế với số lượng lớn.
Như vậy, cho dù một vài cá thể có thể lão hoá, có thể chết, nhưng cá thể
khác vẫn đang phục chế, chỉ cần điều kiện dinh dưỡng cho phép thì chúng
vẫn có thể phục chế không ngừng.
Bởi vậy, người và động vật đa tế bào khác sở dĩ có thể chết là do trong tế
bào có cơ chế ngăn chặn sự phân tách không hạn chế, giống như lắp một bộ
phanh xe tốt. Nếu không phải như vậy thì loài người chúng ta không thể
tưởng tượng nổi sẽ đông đến như thế nào. Nếu như bộ phanh xe nào đó mất
tác dụng, tế bào ở đó cứ liên tục phân tách, sinh sôi không hạn chế, cuối
cùng sẽ hao mòn hết toàn bộ chất dinh dưỡng trong cơ thể sinh vật, tế bào đó
sẽ trở thành tế bào ung thư.
5. Tại sao sinh vật cũng có thể khai thác
quặng?
Nói đến hầm mỏ chúng ta nghĩ ngay sẽ một cảnh tượng máy móc chạy ầm
ầm trên công trường, những chiếc cần cẩu to lớn chuyển một số lượng lớn
quặng lên những chiếc xe tải...
Song phương thức khai thác mỏ kiểu này chỉ thích hợp với khai thác
quặng giàu, còn đối với một số quặng nghèo thì chi phí máy móc khai thác
quặng và tinh luyện kim loại phải trả rất cao, mất đi giá trị kinh tế của khai
thác. Trong trường hợp như vậy, các nhà khoa học liền lợi dụng sinh vật để
giải quyết vấn đề khó này.
Ví dụ như có một số quặng đồng có hàm lượng đồng rất thấp, không có
giá trị chiết xuất, nhưng cũng không thể để lãng phí. Lúc này vi khuẩn có thể
phát huy được tác dụng đặc biệt của mình. Người ta để quặng chất đống
trong nước ao, để một số vi khuẩn đặc biệt sinh sôi nhiều trong nước ao,
chúng biến sunfuarơ (đioxit lưu huỳnh) thành axit sunfuric, mà dung dịch
axit sunfuric có thể hoà tan đồng trong quặng đồng thành dung dịch sunfat
đồng. Như vậy, việc chiết xuất đồng từ trong sunfat đồng đơn giản hơn
nhiều.
Sinh vật khai thác quặng có khi còn cần sự tham gia đồng thời của động
vật và thực vật.
Trong bảng tuần hoàn các nguyên tố kim loại có một thành viên gọi là
tanta, nó thuộc vào kim loại hiếm, chiết xuất khó, do vậy giá cả rất đắt.
Trước đây, con người chỉ có thể chiết xuất được số lượng ít tanta từ trong
phòng thí nghiệm, được coi là vật liệu nghiên cứu quan trọng. Sau đó phát
hiện ra có một loại thực vật gọi là cỏ tử linh lăng có thể hấp thu được tanta,
đem lại hi vọng mới cho việc sản xuất số lượng tương đối lớn tanta.
Nhưng trong sản xuất thực tế, con người đã gặp phải rắc rối, bởi vì cỏ tử
linh lăng là một loại cỏ nuôi súc vật rất tốt, nếu như đem toàn bộ chúng đốt
thành than, lại từ trong than chiết xuất tanta thì sẽ lãng phí mất một số lượng
lớn cỏ nuôi súc vật. Để giải quyết mâu thuẫn này, các nhà khoa học lại tiến
hành nghiên cứu sâu hơn, kết quả phát hiện ra rằng, trong phấn hoa của cỏ tử
linh lăng có lượng tanta rất cao. Vậy là người ta đã tìm ra được một biện
pháp tốt đạt được cả hai mục đích. Ở vùng cỏ tử linh lăng nuôi súc vật,
người nuôi thả nhiều ong mật, lợi dụng ong mật làm "tay truyền bá thứ hai"
chiết xuất tanta. Như vậy lấy cỏ tử linh lăng hấp thu tanta từ trong đất, lấy
ong mật thu thập phấn hoa và gây mật, cuối cùng con người chiết xuất ra
tanta quý hiếm từ trong mật ong. Kết quả là cỏ tử linh lăng không cần phải
thiêu huỷ, mật ong qua chiết xuất vẫn rất thơm, ngọt và còn là thực phẩm
giàu chất dinh dưỡng.
Phương pháp mới để sinh vật khai thác quặng càng ngày càng được sự
hoan nghênh, do nó có nhiều ưu điểm. Phương thức khai thác quặng này
không cần nhiều thiết bị phức tạp, có thể kết hợp việc khai thác quặng với
tinh luyện thành một, không chỉ thao tác thuận tiện và giá thành thấp, còn
đặc biệt thích hợp với quặng nghèo, quặng phế liệu, quặng còn lại và xử lí
quặng cặn, đã có tác dụng thần kì biến quặng phế thải thành quặng quý hiếm.
6. Động vật khác với thực vật ở điểm nào?
Động vật và thực vật đều thuộc về sinh vật nhưng chúng lại là hai loại
sinh vật lớn khác nhau hoàn toàn, hầu như mọi người đều có thể phân biệt
được chúng.
Nhưng có một số loại vừa giống động vật lại vừa giống thực vật, ví dụ
như san hô mà mọi người đều rất quen thuộc, cách đây hơn 100 năm về
trước, do nó nhìn giống như có rễ cây, thân cây, lá cây và cành cây nên dễ
nhận nhầm nó là một loại thực vật.
Vậy thì rốt cuộc động vật và thực vật có những sự khác biệt chủ yếu nào?
Các nhà khoa học quy nạp thành bốn phương diện.
Hầu như tất cả thực vật đều nảy mầm sinh trưởng, khai hoa kết quả cùng
một chỗ, cũng có thể nói là nếu không động đến gốc đất thì sống được cả
đời. Đương nhiên, bên trong này cũng có chút ngoại lệ, như thực vật thuỷ
sinh loại nhỏ sống trôi nổi trên nước. Trái ngược lại với thực vật, đại đa số
động vật để tìm thức ăn, tránh địch hay nguyên nhân khác thường chạy đi
chạy lại, nằm ở trạng thái vận động.
Thực vật từ nhỏ đến lớn, các khí quan vẫn phát sinh thay đổi tăng giảm
không giống nhau, ví dụ như thời kì nhỏ chỉ có rễ cây, thân cây, lá cây, sau
khi trưởng thành mọc ra hoa, sau khi hoa héo tàn lại kết thành quả. Mà đại
đa số động vật (trừ động vật bậc thấp) bất kể là bé hay lớn thì các khí quan
như ngũ quan, tứ chi không tăng không giảm, chỉ có thể tích là to nhỏ không
giống nhau. Ví dụ sư tử con hay hổ con vừa được sinh ra đã có đầy đủ các
khí quan giống như cha mẹ của chúng.
Về đặc tính thói quen sinh sống của hai loài thì thực vật có đặc điểm rất
quan trọng, là ngoài một số ít thực vật kí sinh và ăn ruỗng ra, chúng đều có
thể tiến hành tác dụng quang hợp, có thể tự tạo ra "lương thực" nuôi sống
chính mình. Động vật lại không thể làm được điều này, chúng chỉ có thể dựa
vào thức ăn thực vật hoặc thức ăn động vật khác để nuôi sống bản thân.
Sự khác biệt giữa thực vật và động vật còn có một tiêu chuẩn rất rõ rệt.
Quan sát tế bào của chúng dưới kính hiển vi thì sẽ phát hiện tế bào của thực
vật đều có một tầng vách tế bào vừa dày vừa cứng, mà tế bào động vật thì
chỉ có màng tế bào lại không có vách tế bào.
7. Vi sinh vật có những đặc điểm gì?
Trong vương quốc của sinh vật có một loại sinh vật đơn bào đặc biệt nhỏ,
do vậy các nhà khoa học gọi chúng là vi sinh vật.
Vi sinh vật ngoài cá thể nhỏ ra, còn có điểm nào khác nữa? Thứ nhất, vi
sinh vật có khả năng sinh sôi đáng kinh ngạc, chỉ cần điều kiện thích hợp,
trong thời gian 20 phút, thậm chí ngắn hơn, nó có thể sinh ra một thế hệ mới.
Nếu như không có sự hạn chế của điều kiện tự nhiên, một vi sinh vật chỉ cần
sinh sôi trong thời gian 2 ngày, con cháu đời sau tập hợp lại thì trên Trái Đất
này có nhiều đến mức không thể tưởng tượng được, sức sinh sôi quá lớn như
vậy là sự lạc hậu của các vi sinh vật.
Khả năng thích ứng sinh tồn của các vi sinh vật cũng vượt xa các sinh vật
khác. Ví dụ, có một loại vi khuẩn có thể tiến hành tác dụng quang hợp dưới
ánh sáng Mặt Trời, có thể sống không dựa vào khí oxi, nhưng một khi để
chúng trong môi trường tối thì chúng có thể lập tức thay đổi lợi dụng khí oxi
để sống. Nếu như đặt chúng ra nơi có ánh sáng thì chúng lại có thể lập tức
tiến hành tác dụng quang hợp, sống không cần khí oxi.
Các nhà khoa học khi nghiên cứu khả năng thích ứng của các vi sinh vật
đã phát hiện một khi chất dinh dưỡng mà chúng hấp thu có thay đổi thì nó sẽ
phát sinh biến hóa tương ứng trong 1/1000 giây.
Nếu như điều kiện môi trường thay đổi xấu đi nhanh chóng thì có một số
vi sinh vật sẽ đi vào trạng thái ngủ đông để chống lại môi trường tồi tệ bên
ngoài, chờ điều kiện môi trường được cải thiện thì nó sẽ tỉnh lại. Ví dụ như
bào tử vi khuẩn nằm ở trạng thái ngủ đông, không sợ nhiệt độ cao, áp suất
cao, khô và đói, có thể nói là bào tử hầu như có thể sinh tồn dưới bất kì điều
kiện tồi tệ nào.
Vi sinh vật còn có một đặc trưng kì diệu là dễ thay đổi, cũng có thể nói là
chúng dễ thay đổi theo sự thay đổi của tự nhiên, làm cho chúng có thể an cư
lạc nghiệp trong môi trường mà các sinh vật khác không thể tồn tại được. Ví
dụ, có một số vi sinh vật có thể sống trong nước nón
 





